Cấp lãnh đạo đủ tư cách cho Hội Thánh Reviewed by Momizat on . CHƯƠNG 73 vibi-vibiwebsite.com giới thiệu: CẤP LÃNH ĐẠO ĐỦ TƯ CÁCH CHO HỘI THÁNH I. LẼ CẦN CÓ LÃNH ĐẠO Bất luận sở thích của một cá nhân hoặc của một tổ chức về CHƯƠNG 73 vibi-vibiwebsite.com giới thiệu: CẤP LÃNH ĐẠO ĐỦ TƯ CÁCH CHO HỘI THÁNH I. LẼ CẦN CÓ LÃNH ĐẠO Bất luận sở thích của một cá nhân hoặc của một tổ chức về Rating:
You Are Here: Home » Thần Học » Kinh Viện » Cấp lãnh đạo đủ tư cách cho Hội Thánh

Cấp lãnh đạo đủ tư cách cho Hội Thánh




CHƯƠNG 73

vibi-vibiwebsite.com giới thiệu:

CẤP LÃNH ĐẠO

ĐỦ TƯ CÁCH CHO HỘI THÁNH

I. LẼ CẦN CÓ LÃNH ĐẠO

Bất luận sở thích của một cá nhân hoặc của một tổ chức về những tầng lớp lãnh đạo có là gì đi nữa, không ai có thể phủ nhận cấp lãnh đạo đã được xem là cần thiết trong các Hội Thánh tân ước. hãy nhớ lại vài sự kiện.(1) từ đầu trong sinh hoạt của các Hội Thánh, những khoản tiền cứu trợ đã được gửi từ Antiot đến các trưởng lão trong các hội thánh miền Giu đê ( Công vụ 11:29). (2) Phao lô đã bổ nhiệm những lãnh đạo hầu như ngay lập tức trog  các hội thánh mới được thánh lập trong cuộc hành trình truyền giáo lần thứ nhất (14:23). (3) Giáo Hội Nghị tại Giê-ru-sa-lem đã được triệu tập, được hướng dẫn và kết luận bởi những lãnh đạo ( đoạn 15).(4) các lãnh đạo và các chấp sự xuất hiện nhu một phần bức tranh sinh hoạt bình thường của nhiều Hội Thánh khác nhau(20:17 ; Philip 1:1).(5) Phao lô dường như đã xem các lãnh đạo là cần thiết cho việc hoạt động thích đáng của các Hội Thánh ( tít 1:5) (6) lãnh đạo là một trong những ân tứ thuộc linh ( Rôma 12:8) hoạt động trong các Hội thánh địa phương ( Hêboro 13:7, 17)

II. CÁC TẦNG LỚP LÃNH ĐẠO

Mọi người đều đồng ý rằng đã có ít nhất hai tầng lớp lãnh đạo trong những hội thánh tân ước, là các trưởng lão và chấp sự. không phải mọi người đều đồng ý ngày nay cả hai chức vụ trên đều cần thiết. ví dụ như người ta cho rằng vì Phao lô chỉ nhắc đến những trưởng lão trong Tít 1 ( dầu ông đã viết về cả trưởng lão lẫn chấp sự trong Itimothe 3), nên các chấp sự là phương án tùy ý chọn trong tổ chức của hội thánh. Cũng không phải mọi người đều đồng ý vấn đề có một trưởng lão duy nhất hay nhiều trưởng lão trong nhiều hội chúng ( dù có lẽ mọi người đều đồng tình có nhiều trưởng lão). Trong hệ thống Baptit hội chúng, một mục sư duy nhất trong hội thánh giữ chúc vụ của trưởng lão, còn trong hệ thống trưởng lão – liên minh, mục sư giữ một trong số nhiều trưởng lão.

Một thắc  mắc căn bản hơn: có một tầng lớp thứ ba – tức các giám mục-hay không?  Từ ngữ này được dùng nhiều lần cho Đấng Christ ( Iphiero 2:25); những lần khác nói đến những con người lãnh đạo của các hội thánh. Dường như là các giám mục và các trưởng lão quy chiếu đến cùng của một nhóm người, vì những lí do sau đây.(1) Phao lô đã truyền cho Tít bổ nhiệm các trưởng lão trong mỗi một thành phố Cơret, và  rồi ngay tức khác mô tả họ là những giám mục ( tít 1:5-7). Khi Phao lô gọi những trưởng lão của hội thánh Epheso  đến gặp ông tại Mile, ông đã mô  tả cương vị của họ là những người coi sóc ( các giám mục) ( công vụ 20:17,28). Ông cũng đã công nhận một trong những chức năng của họ là chăn bầy hoặc mục sư cho các tín  hữu

( c.28).(3) khi Phao lô liệt kê những phẩm cách cho giám mục và chấp sự ( I-Timothe 3:11-13), ông không nhắc đến trưởng lão ( dù từ I Timothe 5:17, chúng ta biết hội  thánh này đã có các trưởng lão quy chiếu đến cùng một nhóm người. (4) Trong thư Philip 1:1, Phao lô chỉ đề cập đến các giám mục và các chấp sự. Tại sao ông lại bỏ sót các trưởng lão nếu trên thực tế có ba tầng lớp lãnh đạo?

Có người tuyên bố giám mục là một tầng lớp lãnh đạo riêng biệt thứ ba vì địa vị nổi bật riêng biệt của Gia cơ trên Giáo Hội Nghị tại Giê ru sa lem ( công  vụ 15), và vì họ nói Timothe và tít đã làm giám mục tương ứng cho những hội thánh tại Êpheso và Cơret. Tuy nhiên, Ignatius ( khoảng năm 50 S.C, đến khoảng 115) là người đầu tiên phân biệt giám mục với các trưởng lão và chấp sự như ba tấng lớp chức viên khác biệt ( Ad Smyrna,vii). Sự cần thiết phải có giám mục có liên hệ với nhu cầu giữ gìn sự hiệp một của hội thánh, với nhu cấu bảo đảm nối tiếp đức tin thật của các sứ đồ, và về sau này với nhu cầu cần người làm kênh dẫn để thi hành chức vụ của ân điển thiên thượng ( xem Edwin Hatch, The Organization of the Early Christian Churches [ London: Rivingtons, 1881], trang 83-112).

Tóm tắt chứng cớ này chỉ có hai tầng lớp chức viên trong hội thánh: Giám mục-trưởng lão coi sóc) và các chấp sự.

III. NHỮNG SỰ PHÂN BIỆT GIỮA CÁC ÂN TỨ VÀ CHỨC

Thường có sự lẫn lộn giữa các ân tứ Đức Chúa Trời ban cho trong một đời sống Cơ Đốc Nhân với các chức vụ mà người đó có thể giữ trong tổ chức của hội thánh. Ví dụ như mục sư và các chức vụ mục sư thường được xem là như nhau thay vì được phân biệt ra như đáng phải có. Mục sư là một ân tứ thuộc linh,còn chức vụ mục sư ( trong giáo hội học hiện đại của chúng ta) là một chức vụ của người lãnh đạo chính yếu trong hội thánh ( đặc biệt là trong hệ thống hội chúng). Tuy nhiên cần lưu ý một số điểm phân biệt giữa các ân tứ thuộc linh và các chức vụ.

  1. Ân tứ so với chức vụ: Một người có thể có một số ân tứ  nhất định nhưng không giữ chức vụ của hội thánh địa phương. Thật ra đây là trường hợp của đại đa số tín hữu. họ có những ân tứ ( vì mọi tín hữu đều có ân tứ) nhưng không phải là chức viên trong hội thánh. Tuy nhiên những người thực sự giữ các chúc vụ cũng nên vận dụng những ân tứ thuộc linh nhất định. Các trưởng lão dạy dỗ và cai trị, và các chấp sự nên thực thi các ân tứ phục vụ ( Rôma 12:7). Như vậy người có ân tứ có thể không giữ một chức vụ nào, nhưng một chức viên cũng phải là người có ân tứ.
  2. Nam và nữ. những ân tứ được ban cho cả nam lẫn nữ. nhưng các chức vụ chính trong hội thánh phải do nam đảm nhiệm. ân tứ duy nhất không ban cho phụ nữ đó là ân tứ sứ đồ. Nhưng Đức Chúa Trời ban cho các ân tứ khác cho  cả nam lẫn nữ. ngay cả ân tứ mục sư cũng có thể được thực thi bởi phụ nữ nếu người ta hiểu đúng đắn ân tứ này là một  khả năng để chăn bầy. nhưng nói vậy không có nghĩa một phủ nữ có phép giữ điều ngay nay gọi là chức vụ mục sư. Những chức vụ chủ yếu trong hội thánh Tân ước do nam đảm nhiệm. điều này hoàn toàn rõ ràng vì cả trưởng lão lẫn chấp sự đều được đòi hỏi “ chồng của một vợ”. không có phụ nữ nào có thể đáp ứng điều kiên được phẩm cách đó!
  3. Trong và ngoài hội thánh. Các ân tứ thuộc linh có thể được thực hiện trong và ngoài của mội hội thánh địa phương. Các chức vụ chỉ liên quan đến hội thánh địa phương. Ví dụ ân tứ truyền giảng có thể và nên thực thi trong cũng như ngoài hội thánh. Mặt khác các trưởng lão và các chấp sự chỉ thực hiện chức năng đối với hội chúng địa phương của họ mà thôi.

IV. CÁC TRƯỞNG LÃO

  1. số lượng trưởng lão

Đã có tranh luận đáng kể về vẫn đề các trưởng lão mỗi hội thánh ngày xưa đã có (trong thời tân ước) hoặc nên phải có ( ngày nay). Những người ủng hộ sự quản trị của trưởng lão ( hệ thống liên minh) nghĩ mỗi hội chúng đã có rất nhiều trưởng lão; còn phái hội chúng thấy chỉ có một trưởng lão duy nhất ( mục sư ) trong mỗi hội chúng. Cả hai đều đồng ý mỗi hội thánh đã có hơn một chấp sự.

Sự kiện hội thánh đầu tiên nhóm họp tronh nhà ( Rôma 16:5; I Cô rinh tô 16:19; Côlose 4:15) khiến càng khó có thể giải quyết tranh luận này một cách rốn ráo. Rõ ràng hội thánh trong mỗi thành phố ( tức là toàn bộ số các hội thánh trong nhà  ở mỗi thành phố) đã có các trưởng lão ( philip1:1, tít 1:5), nhưung hko6ng chắc điều này cũng có nghĩa mỗi một hội thánh tại gia có nhiều hơn một trưởng lão. Nói  cách khác mỗi một hội thánh tại gia có lẽ đã có một trưởng lão duy nhất  và người này – cùng với các trưởng lão khác tại các hội thánh khác – đã hợp thànhcác trưởng lão trong thành phố đó.

Hơn nữa các bức thư từ chúa phục sinh gởi đến các hội thánh tại tiểu á đã được gửi cho “ thiên sứ” của mỗi hội  thánh. Nếu điều này liên quan đến một tạo vật thiên sứ, thì không thích ứng với vấn đề. Nhưng “ thiên sứ nói đến người lãnh đạo của mỗi hội thánh thì hiển nhiên chỉ có một người ,  và  điều này hậu thuẫn quan điểm mỗi hội thánh không có nhiều trưởng lão.

Một cuộc lập luận hấp dẫn ủng hộ một trưởng lão độc nhất trong mỗi hội chúng được tìm thấy trong I  timothe 3. khi mô  tả những phẩm cách của các giám mục, phao lô mô tả như vậy cách nhất quán  bằng từ ở số ít ( các câu 1-7), nhưng khi liệt kê những phẩm cách cho chấp sự thì ông chuyển sang số nhiều ( các câu 8-13). Phài chăng điều này cho hấy rằng đã chỉ có một trưởng lão duy nhất và có nhiều chấp sự trong mỗi một hội thánh?

Hoặc có lẽ mỗi hội thánh có ít nhất một trưởng lão và thường có nhiều hơn là một. “Trưởng Lão cai trị” ( I Timothe 5:17) chính là người nhờ vị trí nổi bật của mình mà làm trưởng lão của hội thánh này ( dù hội thánh đó có thể có các trưởng lão nữa ). Một số người thậm trí còn không xem xét đến ý này nữa vì sợ nó dường như hỗ trợ khái niệm một giám mục độc nhất cai trị trên các trưởng lão. Tuy nhiên chính sự kiện đấy chính là điếu đã phát triển trong  các thế kỷ tiếp sau có lẽ nói  nên rằng đã có một trưởng lão cai trị trong mỗi hội chúng ở thế kỷ thứ nhất.

Chức vụ của trưởng lão

Nếu trưởng lão và các giám mục nói đến cùng một người, thì chức vụ của trưởng lão gồm coi sóc ( giám thị) công việc của hội thánh trong mọi phương diện. không phải các trưởng lão chỉ chịu trch1 nhiệm duy nhất cho phúc lợi thuộc linh của hội thánh còn các chấp sự chăm sóc những  vẫn đề thuộc linh về tài chánh, như đôi lúc đã có người nghĩ như vậy. các trưởng lão giám sát mọi mặt của công tác này. Lưu ý là của quyên góp giúp cơn đói kém trong hội thánh đầu tiên đã được gửi đến cho các trưởng lão ở Giê ru sa lem phân phát ( công vụ 11:30). Như vậy biểu đồ tổ chức căn bản dành cho một hội thánh không phải là như sau:

CÁC TRƯỞNG LÃO                       CÁC CHẤP SỰ

( thuộc linh)                                ( thuộc tài chánh)

Mà là như sau

CÁC TRƯỞNG LÃO

( mọi phương diện)

CÁC CHẤP SỰ

( mọi điều nào được các trưởng lão ủy thác cho )

Việc giám sát tổng quát bao gồm cai trị.

Điều này có nghĩa chủ tọa ( Itimothe 5:17) và lãnh đạo (Hebro 13:17), không phải như lãnh chúa và như độc tài, nhưng dầu vậy vẫn có kiểm xoát và thẩm quyền ( PhieroI 5:3; Hebro13:17). Ví dụ như một chức viên chủ tọa thậm chí không có đến một lá phiếu, ngoại trừ trong trường hợp có đồng số phiếu, nhưng ông thạt sự có quyền kiểm soát( trương trình nghị sự, độ dài thời gian thảo luận, người cần được công nhận, được tri ân,vvv….điều đangt1 ao ước là phương diện này của chức vụ trưởng lão sẽ bao gồm  cả ân tứ thuộc linh về sự quản trị ( I Cô 12:28)- một chữ khác được dùng ở đây, mang ý nghĩa căn  bản của việc laí tàu, như trong (Công vụ 17:11). Như vậy  một trưởng lão lãnh đạo hướng dẫn, cai trị, lèo lái bầy nhỏ của mình, đưa đường cho bầy đi cách khéo léo qua  các lượt sóng  khỏi sự lừa lộc của thế gian này

Việc giám sát tổng quát cũng bao gồm bảo vệ chân lý (Tít 1:9).

Điều này có nghĩa vừa tuyên bố vừa giải thích về giáo lý cách tích cực, vừa bảo vệ bênh vực giáo lý trước sự dạy dỗ sai lạc. đây là lý do các trưởng lão phải có tài dạy dỗ ( Timothe 3:2). Đương nhiên chưa ai tường được chọn làm nguời trưởng lão trừ khi người đó biết rõ các giáo lý của đức tin chúng ta và có cả khả năng để giải nghĩa và bảo vệ chúng một cách chính xác.

Những phẩm cách của trưởng lão

  1. Đối với phẩm tính cá nhân.

Có hai phân đoạn Kinh Thánh liệt kê những phẩm cách ràng cho các trưởng lão Itimo 3:1-7 và Tít 1:5,9 đại đa số liên quan đến phẩm tính cá nhân của trưởng lão. I Ti 3:2-4 và Tít 1:7 liệt kê 13 mục

  1. Một trưởng lão phỉ không chỗ chách được. tức là ông có đức tính mà không ai có thể kiện cáo buộc tội được
  2. Ông phải là chồng của chỉ một vợ. phải chăng cuâ này là phỉa kết hôn? Những người nói không phải thì nói rằng Ngàiếu Phao lô hàm ý trưởng lão phải kết hôn thì ông sẽ phải viết “chồng của vợ”. mặt khác, những người cho rằng trưởng lão phải kết hôn thì quan sát thấy trưởng lão luôn được mô tả không những có một vợ mà còn có hai con nữa.

Hơn nũa mọi phẩm cách này đều bắt đầu bằng từ Ngàiữ “phải”. về Phaolo thì sao? Có nhiều nhận xét thích hợp: ông chua từng được gọi là trưởng lão; rõ ràng ông không có vợ ( hoặc ông chưa từng kết hôn, hoặc ông đã góa vợ) khi ông viết I Cô 7:8; và thật khó chứng minh khi ông đã kết hôn, dựa trên cơ sở là ông  đã là một thành viên trong Tòa Công Luận, vì công vụ 26:10 không nhất thiết nói đến tư cách thành viên và không biết chắc hôn nhân có phải là quy định cho thành viên trước năm 70 S.C. không.

Có phải điều này có nghĩa trưởng lão không được tục huyền trước khi ly dị? có nói nếu ly dị có lý do chính đáng thị được phép tục huyền, và như vậy một trưởng lão tục huyền sẽ được phép phục vụ. nói cánh khác “ là chồng chỉ một vợ” có nghĩa chỉ mỗi lần một vợ duy nhất (A.T.Robertdon nói( nhưng không giải nghĩa rõ hay nêu bằng chứng ) đây chính là ý nghĩa “rõ ràng” Wo rd Pictures in the New  Te stament {N.Y.: Harpen. 1931}, 4:573 ). Tuy nhiên, cũng chính cụm tư này được đảo ngược lại chính xác (“Vợ chỉ một người nam”) xuất hiện trong I timothe 5:9 ( bản việt Ngữ: “ vốn chỉ chỉ một chồng mà thôi”), nơi đó loại trừ người đàn bà góa ghi tên vào sổ mà trước đó đã có người chồng thư hai. ( trong câu này Robe rtson kết luận không nhất quán rằng “ các góa phụ trong dang sách này không được kết hôn lần hai” Word Pictures,4:585).kết luận rằng một người nam tục huyền sau khi ly đượcị thì không thể làm trưởng lão không nhất thiết cũng có nghĩa người đã ly đượcị mà không tục huyền không được phép phục vụ. điều đó liên quan vấn đề liệu người này có không chỗ trách được về việc ly di ấy hay không. rõ ràng đây không phải là Chúaấm đoán tội cưới hai vợ hoặc đa thê, vì người hy lạp và la mã không có thông lệ này. Họ có nhiều phụ Ngàiữ trong đời sống, nhưng chỉ có một vơ duy nhất. đây là vấn đề có phải Phao lô đang Chúaấm việc tái hôn( kết hôn hai lần cách hợp pháp). Cá nhân tôi xem chứng Chúaớ này là việc Chúaấm một trưởng lão tái hôn.

Phải chăng Chúaụm từ này có nghĩa ngươ góa vợ mà tục huyền thì không thể làm trưởng lão? Phaolo đã cho thực sự phép ( Icorinhto 8:39-40) và khích lệ (I timothe 5:14) việc tái giá của các giáo phụ (và chắc có các ông góa vợ nữa). tuy nhiên có người kết luận đượcầu vậy những ông góa vợ không thể làm trưởng lão được. có lẽ đây là vấn đề kỷ luật gắt ngao hơn cho trưởng lão để làm gương cho nhiều người khác ( Alan G. Nute .A New Tétament Commentary { Grand Rapids, Zondervan, 1969}, trang. 510)..

  • Ông phải tiết độ. Nguyên văn của chữ này là không uống rượu.
  • Ông phải có tài trí xứng đáng; có nghĩa là biết phán đoán khôn ngoan.
  • Ông phải có cách cư xử xứng đáng ( đến từ chữ kosmos)
  • Ông phải là người hiếu khách.
  • Ông phải có khả năng và sẵn  sàng dạy dỗ ( để có thể hướng dẫn người khác và bác bỏ những ngụy lý ( tít 1:9)
  • Ông không được nghiện rượu.
  • Ông không được hung bạo hoặc hung tàn.
  • Ông phải là người nhẫn nại, không cứ khăng khăng đòi quyền lợi chính đáng cho mình.
  • Ông không được có tính ha,y chanh chấp.
  • Ông phải là người không tham tiền bạc. ( điều này đương nhiên bao gồm việc lạm dụng địa vị để mưu lợi riêng.
  • Ông không được kiêu ngạo (c.7)

2. Đối với cuộc sống gia đình. Phạm vi nhỏ bé hơn nhưng thân mật của gia đình  chính là nơi thử nghiệm khả năng lãnh đạo Hội Thánh của một trưởng lão. Vì Chúaớ đó, ông phải ( chữ “ phải” trong I timothe 3:2 cũng vấn chi phối cho điệu kiện đòi hỏi này nữa) cai trị nguyên văn  là chủ tọa tốt gia đình mình sao cho con cái ông đều vâng phục đáng mến. con cái của ông có bắt buộc phải là người được tái sanh? Những chứ trong tít 1:6 “ phải tin Chúa” có lẽ nói nên điều đó, hoặc có nghĩa chúng phải trung tín đối với gia đình , dù vậy không nhất thiết phải được tái sanh. Phẩm chất này thừa nhận rằng trưởng lão không những có vợ mà còn có con cái đến tuổi đủ để bày tỏ sự tình nguyện trung thành với gia đinh. Dĩ nhiên chính từ ngữ “ trưởng lão” nói nên người lớn tuổi.

  1. Đối với sự trưởng thành thuộc linh. Trưởng lão không là một người mới tin, kẻo họ được tôn cao lên trong đám mây lừa dối, và sự kiêu ngạo đó khiến người sa ngã, cũng như sa tan đã bị sa ngã vậy.
  2. Đối với nếp sống cộng đồng. lời chứng về ông trong cộng đồng cũng phải tốt đẹp nữa.

Sự chọn lựa trưởng lão

  1. Những trưởng lão được chọn như thế nào? Từ ngữ trưởng lão đã được dùng trong dân Y-sơ-ra-ên và trong các quốc gia khác để chỉ về những nhà lãnh đạo. ( công vụ 14:23; tít 1:5 ). Thánh kinh không nói từ đó chỉ về sau các trưởng lão được chọn lựa bằng cách nào. Ngày nay, cách chọn trưởng lão sẽ được quyết định bởi thể loại quản trị Hội Thánh của hội chúng ấy. trong giáo thể có phẩm trật , trưởng lão sẽ được bổ nhiệm. theo giáo thể liên minh, rất có thể họ sẽ được chọn bởi những trưởng lão đương nhiện. trong thể loại hội chúng họ sẽ được hội chúng bầu cử. nhiều Hội Thánh dùng một phương thức tổng hợp; tức là những trưởng lão để cử hội chúng, họ sẽ được hội chúng bầu Chúaử hoặc phê chuẩn
  2. Họ sẽ phục vụ bao lâu? Một lần nữa Tân ước im lặng về vấn đề này. Đương nhiên trưởng lão đừng nên tiếp tục phục vụ nếu đã không đủ phẩm cách vì lý do nào đó.
  3. Họ  cần được phong chức không? Các sứ đồ đặt tay trên những người giúp đỡ đầu tiên đã được chọn trong công vụ 6:6 Hội Thánh đã đặt tay trên Phao Lô và Banaba khi sai phái những người này lên đường truyền giáo lần thứ nhất ( 13:3).  Các trưởng lão cũng đặt tay trên Timothe ( 4:14). Tit đã bổ nhiệm những trưởng lão tại Cơ rết( Tit 1:5). Phao Lô cảnh cáo việc đặt tay cách vội vàng ( Timothe 5:22). Nếu đây là một kiểu phong chức, nó cho thấy một kiểu phong chức, nó cho thấy việc công khai công nhận, xác chứng ơn kêu gọi và khả năng, và sự gắn bó công khai của hội chúng với chức vụ của một người hay nhiều người được tấn phong. Đặt tay đường như là biểu tượng mắt có thể thấy được về sự phong chức. lễ nghi đó băt nguồn tư cựu ước, trong đó có ý niện về (a) biệt riêng ra cho chức vụ ( Dân số ký 27:23) (b) chúc phước ( STK 48:14), (c) dâng hiến cho Đức Chúa Trời ( lê vi ký 1:4), và (4) chuyển giao và dự phần trong hành động ( c.4, động từ này có nghĩa là tựa lên trên).

Lễ phong chức trong tân ước, không phải là bổ nhiện vào chức vụ, mà là công nhận sự phê chuẩn và ủng hộ. cũng để ý rằng đã có một mỗi liên hệ cứ tiếp diễn giữ người đặt tay và người được đặt tay ( I Timothe 5:22). Đó là lý do đừng nên đặt tay cách vội vàng. Nếu được thực hành ngày nay, việc này không bắt buộc phải giới hạn cho các mục sư thôi. Những trưởng lão có thể được phong chức, cả các chấp sự cũng vậy, và ngay cả những nhà truyền giáo, theo gương mẫu của tân ước.

V. CÁC CHẤP SỰ

  1. Số lượng chấp sự

Không có bất đồng ý kiến về số lượng chấp sự trong một hội chúng. Đã có nhiều chấp sự. lần noi rõ rang đầu tiên đến nhóm chức viên chấp sự chính thức là trong (Philip 1:1), nơi nhóm này thuộc nhóm nhiều ( như số các giám mục và trưởng lão, như vậy không cần chứng minh có nhiều chấp sự trong mỗi hội chúng vậy). I Timothe 3:8-13 cũng vậy. tại đây, nhiều chấp sự được lien kết với một Trưởng lão duy nhất, cho thấy bằng chứng mạng mẽ hơn rằng có nhiều chấp sự trong mỗi Hội Thánh.

Chức vụ của chấp sự

Từ ngữ này có nghĩa là phục vụ và được dùng thường xuyên nhất theo nghĩa không chính thức, cả trước lẫn sau khi chức vụ của chấp sự trở thành rõ rang trong Kinh Thánh Tân ước ( Cô lô se 1:7; Ti  môthe4:6). “ làm chấp sự” là phục vụ nói chung,cả chính thức lấn không chính thức. tân ước không nói rõ những chấp sự chính thức sẽ làm việc gì. Có người dùng công vụ 6 như dầu hiệu cho thấy các chấp sự nên dư phần trong việc bố thí. Nhưng hoàn toàn không rõ bảy người được chọn lúc đó trên thực tế có đúng là những chấp sự chính thức hay không. Có lẽ sẽ chính thức hơn Nếu gọi họ là là những người giúp đỡ đầu tiên không thuộc hang các sứ đồ. Sự kiện các chấp sự không được nói hai lời và vợ của họ không nói sấu ( ITimoth3:8,11) có lẽ cho thấy họ có kiểu chức vụ riêng tư từng người một cho những cá nhân trong hội chúng, khiến càng đặc biệt cần họ đừng tiết lộ tâm sự kín đáo trong khi tư vấn.

Trong cấc tác phẩn Hylap, “ chấp sự” mô tả người bồi bàn, một sứ giả, người quản lý, và một tên đầy tớ. những cách dùng từ Này có lẽ củng cố khái niệm cho rằng những chấp sự chính thức trong Hội Thánh đã làm bất kỳ loại công việc phục vụ nào mà trưởng lão đã ủy thách cho họ.

Các phẩm chất của chấp sự (I Timothe 3:8-10, 12-13)

    1. Về phẩm chất cá  nhân ( câu 8). Các chấp sự phải (a) nghiêm trang đáng tôn quý, đứng đắn, (b) không được nói hai lời ( nói điều này cho người này và nói điều khác cho người khác), (c) là những người không chú ý hoặc không quan tâm đến  rượu và, (d) là những người không tham lam.
    2. Về giáo lý (câu 9). Các chấp sựneen gữi vững phần tập hợp chân lý Cơ đốc khách quan ( đạo) bằng một lương tâm trong sạch, có nghĩa là bằng đời sống nhất quán với những điều họ tin.
    3. Về mặt thuộc linh ( c.10). các chấp sự đã chịu thử thách và được phê chuẩn và không chổ trách được.
    4. Về Gia đình ( câu 12). Tương tự như trương lão các chấp sự chỉ một vợ mà thôi, gia đình của người ấy cũng phải được khéo cai trị.
    1. Sự chọn lựa các chấp sự

    Kinh Thánh không nói rõ rang dứt khoát chọn các chấp sự hoặc nhiệm kỳ của họ. hội chúng đã dự phần rất nhiều những người giúp đỡ trong chức vụ Công vụ 6.

    VI. CÁC NỮ CHẤP SỰ

    1. Một chức vụ hay một sự phục vụ

    Hai phân đoạn có lien quan đến vấn đề này là Rôma 16:1-2, trong câu này Phêbê được gọi là “chấp sự” ( nguyên văn) và “người giúp đỡ” của Hội Thánh tại Xencore; và Timothe 3:11, nơi mà chữ gunaikas có lẽ lien hệ đến một nhóm riêng biệt gồm phủ nũ lãng đạo, hoặc đơn giản nói đến những người vợ các chấp sự.chắc chắn phụ Ngàiữ đã thực thi một sựphucj vụ nào đó trong Hội Thánh đầu tiên, nhưng không rõ mo6tj số người trong nhóm của họ có được xem là giữ chức nữ chấp sự hay không.

    Để ủng hộ đây là chức vụ, có những nhận định sau đây. (1) người giúp đỡ trong Rôma 16:2 được dùng bên ngoài Kinh Thánh Tân Ước chỉ về mọt chức viên trong một hiệp hội tôn giáo. Tuy nhiên điều này chỉ đúng cho hình thức giống đực, cư không đúng cho hình thức giống cái, là hình thức được đùng trong câu 2.(2) I Timothe 3:11chữ “cũng”giới thiệu nhưng người phụ Nữ y như cách đã giới thiệu các chấp sự trong câu 8, chăc chỉ ra thấy môyj chức vụ riêng biệt cho những phụ Ngàiữ này.

    Phản đối việc xem đây là chức vụ Ngàiữ chấp sự có những nhận định sau đây (1) Thục sự có một từ hyvan chỉ về Ngàiữ chấp sự , những chữ này không dùng trong tân ước.(2) Dầu Phêle được gọi là người giúp đỡ và dầu danh hiệu này được dùng chỉ về người có chức vụ, không có gương mẫu nào được biết về cách dùng của nó và có lien hệ đến một ngươi phụ Nữ ( trừ khi Phê lê là trường hợp ngoại lệ).(3) Nếu câu 11 giới thiệu về một chức vụ mới ( chức các Nữ chấp sự), thì tại sao Phao lô không chấm dứt việc liệt kê những phẩm cách cho các chấp sự trước khi giới thiệu điều đó?thay vào đó ông dùng loạt cac phẩm cahcs dành cho chấp sự  trong c.12-13. Điều này cos thể cho thấy ông đangnois đến những người vợ của các chấp sự trong câu 11 hơn là nói đến một chức vụ riêng biệt trong Hội Thánh. Một số người theo phái tự do- cảm nhận được sức mạnh của ý này – biện luận rằng c.11 là năm trật thứ tụ trong khúc Kinh Thánh này và đáng pải đi sau c.13.

    Vào năm 12 S.C. phiny, tổng đốc Lamã ở xứ Bithynia viết cho Trajan và đề cập đến hai ministrac Nữ cơ đốc nhân. Nhưng không, đặc biệt vì chưa Ngàiữ chấp sự nào được nhắc đến bằng từ ngữ cụ thể này trong bất cứ văn phẩm nào cho đến tác phẩm nhan đề  Didascalia thuộc thế kỷ thứ ba. Tại đây các Ngàiữ chấp sự xuất hiện như một đẳng cấp được công nhận và vững lập rồi gồm những ngường giúp đỡ, mà họ hoaowcj là những nữ đồng trinh hoặc những góa phụ đã có lần kết hôn ( để có them tài liệu bổ sung  chalesRyrie the Role of Women in the Church { Chicago: Moody, 1979,} trang 85,91, 102-3,131-6]

    Các phẩm cách của nữ chấp sự

    Danh sách duy nhất của Kinh Thánh về các phẩm cách sẽ ở trong câu 11 Ngàiếu câu này thật sự nói đến những Ngàiữ chấp sự một danh sách liệt kê ở ngoia2 Kinh Thánh xuất hiện trong tác phẩm Didascalia, trong tác phẩn này họ phải là những Ngàiữ đồng trinh  hoặc là các góa phụ đã từng kết hôn, chung thủy chung tín và đáng quý trọng

    Chức vụ của nữ chấp sự

    Tác phẩm Didascalia, iệt kê những bổn pohanj của họ như phụ giúp trong lễ băt tem cho phụ  nữ, viếng thăm người đau, chăm sóc giúp đõ cho những người túng thiếu và những người đang hồi sức sau khi bệnh ( chương 16,3 , III,12)

    VII. NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC ỦY THÁC QUẢN LÝ TÀI SẢN

    Đương  nhiên, những người được ủy thác tài sản, là quy luật tất yếu không có trong Kinh Thánh nhưng không thuộc thời này ( và không trái với Kinh Thánh ) ở trong một số xã hội. họ giữ tài sản nhân danh tập thể để tránh những phức tạp của pháp lý khi một nguoif nào đó qua đợi. Nếu tài sản được sở hữu theo tên của cá nhân thì tài sản đó sẽ không thuộc về nhóm người này, nhưng phần tài sản của cá nhân đó sẽ chuyển sang cho những người thừa kế của cá nhân đó ( mà có thể họ không tin Chúa) khi cá nhân này qua đời. có những người được ủy thác quản lý tài sản sẽ tránh được những phức tạp như thế.

    ( theo Thần học căn bản, Charles C. Ryrie )




    Comments

    comments

    About The Author

    Number of Entries : 217

    Liên Phái Thánh Kinh Thần Học Viện Việt Nam Website đang xây dựng

    Scroll to top