Các thánh lễ cho Hội Thánh Reviewed by Momizat on . CHƯƠNG 74 vibi-vibiwebsite.com giới thiệu: CÁC THÁNH LỄ CHO HỘI THÁNH KHÁI NIỆM VỀ THÁNH LỄ Lễ báp tem và lễ tiệc thánh được xem là những thánh lễ ngày nay,dù v CHƯƠNG 74 vibi-vibiwebsite.com giới thiệu: CÁC THÁNH LỄ CHO HỘI THÁNH KHÁI NIỆM VỀ THÁNH LỄ Lễ báp tem và lễ tiệc thánh được xem là những thánh lễ ngày nay,dù v Rating:
You Are Here: Home » Thần Học » Kinh Viện » Các thánh lễ cho Hội Thánh

Các thánh lễ cho Hội Thánh




CHƯƠNG 74

vibi-vibiwebsite.com giới thiệu:

CÁC THÁNH LỄ CHO HỘI THÁNH

  1. KHÁI NIỆM VỀ THÁNH LỄ

Lễ báp tem và lễ tiệc thánh được xem là những thánh lễ ngày nay,dù vậy một số nhóm thích gọi là nhữn bế tích. Từ ngữ “ bế tích” có nghĩa là làm ra thiêng liêng, để dâng hiến cho một vị thần hoặc để dùng vào công việc thiêng liêng. Từ ngữ  Latin này được dùng trong bản Vulgate để đượcịch từ ngữ Hylap mustcrion, đem lại ý niện  về điều gì đó huyền nhiệm hoặc thần kỳ. như vậy các nhóm nào thích gọi như ngx ghi lễ này của Hội Thánh là bí tích thì thường liên hệ những ghi lễ này với quyền năng huyền nhiệm nào đó hoặc vứi việc thực sự truyền đat ân điển. Giáo Hội Nghị Trent định nghĩa một bí tích là “ một điều gì đó được trình diện cho giác quan, có quyền năng, bởi sư thiết lập thiên thượng, không những để biểu thị, mà còn để truyền đạt ân điển cách hiệu quả nữa”.

Ngược lại, “thánh lễ” (mặc dù là từ đồng nghĩa với bí tích trong từ điển) không đồng nhất với ý niệm truyền thụ ân điển mà chỉ mang ý niệm về một biểu tượng. như vậy bản than thánh lễ không có quyền năng cố hữu để thay đổi những người tuân giữ nó, dù vậy Đức Chúa Trời có thể dùng thánh lễ đó chăm sóc cho họ.

  1. SỐ LƯỢNG CÁC THÁNH LỄ

Nhiều người ( như Thiessen) giớ hạn các thánh lễ vào những ghi lễ được thiết lập bởi Đấng Christ để được cử hành trong Hội Thánh. Theo loại định nghĩa này, lễ báp tem và tiệc thánh rõ rang là những thánh lễ, dù vậy việc rửa chân cũng có thể là thánh lễ.

Ngàiếu hiểu về thánh lễ cách rộng hơn ( tuy nhiên vẫn trong phạm vi những giới hạn được Đức Chúa Trời thiết lập và có lien hệ đến Hội Thánh) thì ghi lê Hôn Phối và ghi lễ Cầu nguyện cho người đau trong Giacơ5 cũng có thể được xem là các thánh lễ. lễ Hôn Phối được Đức Chúa Trời và làm biểu tượng cho mỗi liên hệ giữa Đấng Christ và Hội Thánh; và Cầu nguyện cho người đau có lien quan đến Hội Thánh qua những trưởng lão của Hội Thánh. Tuy nhiên, mọi người đều đồng ý lễ Báp tem va lễ Tiệc Thánh, xứng đáng là những thánh lễ của Hội Thánh.

  1. THÁNH LỄ BẮT TEM
  1. Tầm quan trọng của lễ bắp têm

Tầm quan trọng của Lễ báp tem được nhấn mạnh bởi những nhận định sau đây.

1. Đấng Christ đã chịu báp tem ( Mathio 3:16). Dù ý nghĩa lễ Báp tem của Ngài chịu là hoàn toàn khác biệt với tầm quan trọng phép báp tem cho các Cơ Đốc Nhân, tuy nhiên vẫn có một phương diện trong đó chúng ta noi gương Chúa khi chúng ta chịu Báp têm. Thật vậy, chúng ta không bao giờ có thể bắt trước trọn vẹn Đấng vô tội

Tuy nhiên chúng ta phải noi theo những bước chân đó (I Phiero 2:21).

2.chúa đã phê chuẩn cho môn đồ Ngài làm Báp têm ( Giăng 4:1-2).

  1. Đấng Christ đã truyền cho mọi người trong thời đại này phải chịu phép  Báp tem ( Mathio 28:19_. Rõ rang mạng lệnh này không những dành cho các sứ đồ đang nghe mạng lệnh, mà còn dành cho những kẻ theo Ngài suốt cả thời đại này, vì Ngài đã hứa Ngài hiện diện cho đến tận thế.
  2. Hội Thánh đầu tiên đã dành cho phép Báp tem một vị trí quan trọng ( Công vụ 2:38,41;8:12-13,36,38 ;9:18;10:47-48;16:15,33;18:8;19:5). Hội Thánh đầu tiên chưa từng biết đến tín hữu chưa chịu Báp têm.
  3. Kinh Thánh Tân ước dùng thánh lễ này để minh họa hoặc làm biểu tượng những chân lý thần học quan trọng ( Rôma 6:1-10, Galati 3:27; I Phiero 3:21).
  4. trước giả thư Hêboro gọi Báp têm là một lẽ thật Ngàiền tảng (6:1-2). Giáo lý này không phải là phương án tùy chọn hoặc kém quan trọng hơn các giáo lý về sự ăn ăn, sự sống lại hoặc sự đoán xét.
  1. Ỹ nghĩa của lễ bắp têm

Theo Thánh kinh, Báp têm được lien hiệp với sự tha tội ( Côngvu 2:28; 22:16), cùng hiệp nhất với Đấng Christ ( Rôma 6:1-10), đào tạo môn đồ ( Mathio 28:19), và sự ăn năn ( Côngvu2:38). Nói vậy không có nghĩa kết luận rằng phép Báp têm bằng nước đem lại sự tha tội, vvv.., nhưng có nghĩa phép Báptêm lien kết chặt chẽ với những điều nào bắt đầu đời sống Cơ đốc.

Theo ý nghĩa thần học, có thể định nghĩa lễ Bát têm như là một hành động của sự lien hiệp hoặc đồng nhất hóa với một người nào đó, một nhóm nào đó, một sứ điệp nào đó hoặc môt sự kiện nào đó. Phép Báp tem gia nhập vào những tôn giáo huyền bí của Hylap đã hội hiệp những người mới thụ giáo này với tôn giáo đó. Phép Báptem cho những người cải đạo Do thái giáo kết hiệp người cải đạo với do thái giáo. Phép báp tem của Giăng Bap Tít kết hợp những người  cho những người cải đạo Do Thái giáo kết hiệp người cải đạo với người Do Thái giáo . Phép báp tem  của Giăng Bắp Típ kết hợp những người đi theo ông với sứ điệp của ông về sự công chính( ông không kêu gọi họ gia nhập một nhóm nào).( nhân đây cũng cần biết Giăng dường như là người đầu tiên từng làm phép Báp tem co người khác- thường thường Phép báp tem được tự cử hành). Đối với Giacơ và Giăng, cịu Báp tem của Đấng Christ có nghĩa được kết hợp với sự chụ khổ của Ngài. ( Mác 10: 38-39). Được Báp tem bằng Đức Thánh Linh liên hiệp với một người với thân thể của Đấng Christ có nghĩa được kết hợp với sự chịu khổ của Ngài ( Mác 10:38-39). Được Báp tem bằng Đức Thánh Linh liên hiệp  một người với thân thể  Đấng Christ ( I Cổinhto 12:13) và với đời sống  trong Christ ( Roma 6:1-10). Chịu bắp têm vào Môi se bao gòm sự đồng nhất với sự lãnh đạo của ông trong việc đem dân Y-sơ-ra-ên a khỏi Acap ( I Cô rinh tô 10:2). Chịu Bắp têm cho người chết có nghĩa là được đồng nhất hóa với nhóm Cơ Đốc Nhân và mang lấy địa vị của một tín hữu đã chết ( 15:29).phép Bắp tem của CDN có nghĩa là đồng nhất hóa với sứ điệp Phúc âm, với thân vị của Cứu Chúa,và nhóm tín hữu. một số phép Bắp têm vừa liệt kê hông lien quan đến nước. cũng hãy quan sát xem chúng ta sẽ nghèo nàn biết bao nếu không hiểu đúng và thỏa đáng về ý nghĩa và những hệ quả của phép bắp tem.

  1. Những đối tượng chịu lễ Bắp tem

Vấn đề là: Chỉ có những tín hữu nên chịu Bắp têm hay tre sơ sinh (con của những tín hữu) cũng nên chịu phép Bắttem? Những lập luận hậu thuẫn phép Báp tem của trẻ sơ sinh gồm có những điểm sau:

    1. lập luận về phép cắt bì. Côlose 2:11-12 rõ ràng là lien kết phép cắt bì với Phép Bắttêm \. Vì trẻ sơ sinh chịu phép báp tem dưới Giao ước  Cũ, chúng cũng nên được làm báp tem dưới Giao ước Mơi. Lập luận này đượcựa trên khái niệm của Thần học giao ước về một giao ước đơn nhất cả ân điển có đòi hỏi nghi lễ kết nạp vào giao ước đó, và hgi lễ này là chịu phép cắt bì trong cựu ước và phép báp tem trong tân ước. những nghi lễ  này nói lên tư cách thành viên trong giao ước, chứ không nhất thiết cho thấy đức tin cá nhân. ( Xem James Bu well. A Systematic Theology of the Christian ReLigion [  Grand Rapids: Zondervan, 1962], 2:262).
    2. Lập luận lịch Sử. Từ những thơi gian ban đầu, hội thánh đã làm phép Bắttem cho trẻ con; vì thế đây là điều được phép làm. Các giáo phụ đã hậu thuẫn việc làm phép bắttem cho trẻ con, thường lien hệ phép Báp tem với phép cắt bì, nhưng sự kiện hội thánh đầu tiên đã thi hành hoặc đã tin điều gì đó thì bản than sự kiện ấy không khiến cho nó đúng. Một số người trong hội thánh đầu tiên đã đượcạy sự tái sanh bởi phép Bắp tem, những sự đượcạy đượcỗ ấy là tà giáo.
    3. Lập luận người nhà. Những thành viên trong Gia đình đã chịu phép Báp tem trong thời tân ước. rất có thể ít nhất cũng có một số hài nhi đã được bao gồm trong một số người trong nhà ( công vj 11:14; 16:15, 31,33;18:8; ICô 1:16). Có người còn dẫn trích dẫn lời hứa dành cho những người nhà ở I Cổinhto 7:14 như là không những cho phép mà còn bắt buộc có làm Báp tem cho trẻ con của Gia đình mà trong đó cỉ có cha mẹ tin Chúa mà thôi.

Quan điểm phản đối Phép báp tem cho trẻ con, và vì vậy ủng hộ phép Báp tem của các tín hữu, nêu lên (a)  thứ tự theo Kinh Thánh là luôn luôn tin rồi mới chịu Bắp tem ( Mathio 3:2-6; 28:19; Công vụ 2:37-38; 16:14-15,34); ( b) Phép Báp tem là nghi lễ kết nạp để gia nhập vào cộng đồng của những kẻ tin,là hội thánh; vì cớ đó chỉ nên cử hành cho những người tin. Ngược lại,phép cắt bì đã kết nạp người ta ( kể cả các em bé) bước vào một chế đô thẩm quyền mà thực sự đã có nhữn kẻ không tin trong đó. ( c) Tuổi của đứa trẻ không hề được nhắc đến trong bất kỳ phân đoạn Kinh Thánh nào đề cập đến phép Báp tem cho những người nhà. Nhưng Kinh Thánh có nói rằng mọi người  chịu Báp tem trong những người nhà đó đều đã tin. Vậy thì điều này sẽ loại trừ việc tính trẻ sơ sinh trong số những người  chịu Báp tem. (đ) nếu I Cô rinh tô 7:14 cho phép hoac  đòi hỏi việc Báp tem cho trẻ con trong một Gia đình nơi mà cũng có một người cha hoặc mẹ tin Chúa, thì nó cũng xẽ cho phép hoac đòi hỏi phép Báp tem cho người phối ngẫu trưởng thành chưa tin Chúa.

  1. Làm Báp tem lại

Chỉ có một ví dụ cụ thể duy nhất vè những người chịu phép báp tem lại lần thứ hai ( Công vụ 19:1-5). Mười hai người này đã chịu phép Bép têm bởi Giăng Bắt típ, và họ đã chịu Phao Lô làm Báp tem lại sau khi họ tin sứ điệp của Đấng Christ.điều này cung cấp them một ví dụ để tư vấn cho những người nào ngày nay đã chịu báp tem khi còn là những đứa tre sơ sinh- hay là những thiếu niên, người lớn – chưa tin nhận Chúa, và rồi khi những người đó đượcến với đức tin trong Đấng christ. Đây cũng là lập luận phản đối việclamf Báp tem cho trẻ sơ sinh nếu như về sau pải chịu báp temlaij sau khi đứa trẻ đó tiếp nhận Chúa Giê-Xu cách cá nhân?

  1. Thời điềm chịu Bắp têm

Các ví dụ trong tân ước nêu rõ những tín hữu đã chịu báp tem ngay sau  khi họ tin. Không thấy nói đến thời gian thử thách, đượcầu vậy những thời gian như thế có thể được xem là lý do xác đáng để thử thách khẳng định tính chân thật của đức tin.

  1. Phương thức Báp tem
    1. Lý lẽ tán thành việc rảy nước ( 1) một số nghi lễ tẩy uế trong thời cựu ước bao gồm việc rẩy ( Xuất 24:6-7; Lê vi 14:7; Dân số 19:4,8), và những nghi lễ này đã được phân loại là “ các phép Báp tem” trong Heboro9:10.(2) sự rẩy nước minh họa rõ nhất sự tẩy sạch của Đức Thánh Linh như trong Exechien36:25.(3) Baptizo có thểc có một ý nghĩa thứ hai là “ đem dìm xuống dưới một ảnh hưởng”và việc rảy sẵn sang minh họa điều này. (4) Sự dìm mình xuống đã là không chắc có, hoặc không thể làm được trong một số trường hợp ( công vụ 2:41 có quá nhiều người; 8:38, có quá ít nước tại một nơi trong sa mạc; 16:33; quá ít nước trong một căn nhà). (5) Đại đa số hội thánh hữu hình đều làm Báp tem không dìm xuống nước.
    2. lý lẽ tán thành việc đổ nước( hoặc xối nước). (1) đổ nước miêu tả tốt nhất chức vụ của Đức Thánh Linh hien xuống và đi vào đời sống của một tín hữu ( Giôen 2:28-29; công vụ 2:17-18). (2)Những cụm từ “vào trong nước” và “ ra khỏi nước” và “ đi xa khỏi nước”. nói cách khác, người chịu báp tem đến với nước có lẽ thậm chí vào cả trong nước, nhưng không ở dưois nước. (3) Những hình vẽ ở trong các hầm mộ cho thấy người Chịu Báp tem đứng Ngàiập nước đến thắt lưng trong khi người làm Báp tem đổ nước từ chiếc bình trong tay ông lên đầu người chịu báp tem.
    3. Lý lẽ tán thành việc nhấn chìm trong nước. (1) sự nhận chìm là điều chắc chắn mang đầy đủ ỹ nghĩa từ Baptizo. Ngôn ngữ Hylap có những chữ dành cho việc rảy nước và đổ nước mà chúng chưa từng được dùng chỉ về Báp tem.(2) Việc dìm trong nước minh họa tốt nhất ỹ nghĩa của lễ Báp tem, tức là chết về đời sống cũ và phục sinh vào đời sống mới ( Rôma 6:1-4). (3) Sự nhận chìm có thể được thực hiện trong mọi trường hợp. đã có những hồ chứa đủ nước trong thành Giê-ru-sa-lem để cho phép dìm mình ba ngàn người mới tin tring ngày lễ ngũ tuần. Con đường đến Gaxa đã là con đường vắng vẻ nhưng không phải là không có nước. những ngôi nhà thường có những hồ chứa ngoài trời, để Gia đình của người đề lao tại Phi líp chẳng hạn được dìm mình trong đó. ( 4) phép Báp tem cho những người cải đạo đã được thực hiện bằng cách tự dìm mình vào trong một bồn nước. phương thức này lẽ tự nhiên sẽ được chuyển sang hội thánh Đấng Christ. ( 5) Đổ nước, chứ không phải rảy nước, đã là ngoại lệ đầu tiên của việc dìm mình và đã được phép thực hiện trong những trường hợp bệnh tật. việc này được gọi là “ phép Báp tem trên giường bệnh”. Cyprian( vào khoảng 248-258 S.C) là người đàu tiên chấp thuận kiểu rảy nước này. Ngay cả những những người không theo hình thức dìm mình trong nước cũng công nhận việc dìm mình là cách cử hành phổ thông của hội thánh thời các sứ đồ. ( Xem Calvin, In stiutes,4:15:19).

Nhận xét: theo tôi, những người muốn biện minh cho việc rảy nước dừng như có suy nghĩ theo cách này. Nếu có thể chúng minh bất cứ hình thức không dìm mình xuống nước nào ( như kiểu đổ nước chẳng hạn) đã được cử hành từ sớ thì bạn có thể hợp pháp thực hành cách rảy nước, dù hiển nhiên cách ấy không được thực hành trong hội thánh thời các Sứ đồ. Nói cách khác, nếu đổ nước là một lỗ rò trong con đê của phương thức dìm mình phổ thông, thì rảy nước tràn vào đó. Tuy nhiên, cho dù như thế đi chăng nữa, bằng chưnngs này chỉ nói lên cách đổ nước (  nếu nó được thực thi) đã được xem là một với cách dìm xuống nước, nhưn raỷ nước đã không được xem là có hiệu lực như phép Báp tem.

  1. Cách Dìm Ba Lần

Dìm mình ba lần là phương cách dìm những là phương cách ứng viên chịu Bắttem ba lần ( thường là tới phía trước) để làm biểu tượng sự lien hiệp với Ba Ngôi Đức Chúa Trời. tác phẩm Didache nói nếu không thực hiện được dìm mình thì có thể đổ nước ba lần trên đầu ( chưng 7). Lưu ý rằng tác phẩm có từ sớm này không nói dìm mình ba lần, chỉ nói đổ nước ba lần mà thôi. Những người đượcề xướng việc dìm mình ba lần nói rằng có một số  từ điển nói rằng baptize có nghĩa là nhúng chìm vào nước kiên tục ( nhưng mọt số thì không nói vậy). chứng cớ bênh vực quan điểm này không mạnh mẽ.

  1. TIỆC THÁNH
  1. Sự Thành Lập

Dừng như Chúa đã thiết lập Tiệc Thánh có lien quan đến việc ăn Lễ VượtQua trước khi Ngài chịu hình trên Thập Tự Giá, dù vậy điêu fnayf ngây nan đề về thứ tự thời gian. Thừa nhận sụ đóng đinh trên Thập Tự vào ngày thứ sáu, Phúc Âm Giăng dường như nói lễ vượt qua vẫn chưa được cử hành cho tới khi Chúa Giê-Xu chết và chịu chôn ( 18:28; 19:24). Tuy nhiên, một số người nghĩ rằng những người galile và hoặc người Pha ri si cử hành lễ vượt qua  vào tói thứ năm, còn những người Giuđê và/ hoặc những người Saduse lại giữ buổi tối này tối thư sáu ( thì quá khứ chưa hoàn thành “ giết chiên con” có lẽ cho thấy các thầy tễ lễ đã dâng sinh tế cả hai ngày).

  1. Thứ tự của Lễ tiệc Thánh

Một mình Thanh lễ này ( không có bữa ăn ) đã bao gồm việc Đấng Christ lấy bánh không men, dâng lời tạ ơn, phân pát cho các môn đệ,và cũng làm như vậy với chén.

Trong những thế kỷ đầu, buổi lễ mở rộng ơn bao gồm bữa tiệc yêu thương, có nhiều lời Cầu Nguyện khác nhau để cảm tạ, xưng tội, đọc và dạy lời Kinh Thánh, rồi đến chính Tiệc Thánh, quyen góp cho các cônhi, góa phụ, người đau và người túng thiếu, và một cái hôn thánh, ( Xem Didache, 7-15 Justin Martyr, Apology,C.Lxvii, và c.Lxv).

Phàn chích dẫn thứ nhất trên đây từ  Justin Martyr và nói rằng rượu nho được pha với nước. thánh kinh thực sự không dung từ ngữ “ rượu” đối với bữa Tiệc Thánh này chỉ nói “chén” hoặc “trái nho”. Dĩ nhiên đây là nước lây từ trái nho, nhưng không nói đây đã lên men hay chưa. Nước nho chưa lên men được dung trong thời Đấng Christ nhiều hơn mức ngưoif ta tưởng. tuy nhiên, nếu nước này đã được lên men chút ít thì dường như nó được pha với nước cho loãng. Vì những người nghiện rượu đã tin Chúa hoặc thậm chí để ngăn chặn ai muốn bắt đầu uống rượu, nước nho chưa lên men được ưa chuộng khi xét tới nan đè nghiện rượu toàn cầu của thời nay.

  1. Nhũng ỹ nghĩa Của Tiệc Thánh
    1. Đây là sự tưởng nhớ Đấng Christ ( I Cô rinhto 11:24). Tiệc Thánh gợi nhớ đời sống của Đấng Christ ( bánh), sự chết của Ngài ( chén), sự phục sinh và hiện diện hắng sống của Ngài ( chính buổi lễ).
    2. đây là việc loan báo sự chết của Ngài ( Cô rinhto11:26). Chính buổi lễ nói lên sứ điệp Phúc Âm cũng như những tuyên bố của Phúc Âm đòi hỏi trên những người đã được chuộc. một sôa giáo sĩ mà toi quen biết đã được hướn dẫn đến phục vụ trong lãnh vực truyền giáo đang khi ông là mục sư cử hành Tiệc Thánh tại hội thánh của ông- suy ngẫm về ỹ nghĩa của lễ Tiệc Thánh trong lú các chấp sự đang phân phát Tiệc Thánh.
    3. đó là sự bảo đảm về sự tái lâm của Đấng Christ ( mathio 26:29; I Cô rinhto 10:21).

Đấng Christ hiện diện trong Tiệc Thánh theo ý nghĩa thế nào? Giáo hội công giáo La mã dạy rằng than và huyết thật của Đấng Christ hiện diện trong bánh và chén, và dưới những nguyên tố bánh và chén đã thực sự biến đổi ( biến thể huyết- transubstantiation). Giáo Hội Lutheran đượcạy rằng mỗi cá nhân đượcự phần thân và huyets thật của Đấng Christ trong, với và dưới những nguyên tố bánh và chén. Những nguyên tố này vẫn không thay đoi,  những lời Cầu Nguyện cung hiến truyền thông Đấng Christ đến với những người dự phần ( đồng thể huyết-con substantiation). Quan điểm cải cách ( calvin) đượcạy rằng dâu fnhuwngx yếu tố dó chỉ lànhuwngx biểu tượng, việc ăn bánh uống chén bao gồm cả việc dự phần Đấng Christ trong sự hiện diện cứu chuộc của Ngài. Tuy nhiên, Zwingli dạy rằng Tiệc Thánh chỉ là một sự tưởng tượng nhớ. Đó là  sự tưởng nhớ, nhưng cũng là một buổi lễ trong đó sự hiện diện của Đấng Christ trong dân sự Ngài đem lại kết quả là một sự hiệp thông thật sự.

  1. Những Sự Đòi Hỏi Của tiệc Thánh
    1. Tái sinh. Chỉ có tín hữu mới có thể kinh nghiệm được sự Hiệp Thông.
    2. Tình thông công với mọt hội thánh địa phương. Các tín hữu không ăn năn đang chịu kỷ luật đã không được dự Tiệc Thánh (I Cô rinhto 5:11-13; II Tê salonica 3:6,11-15).
    3. tra xét đượcọn mình thanh sạch trước khi dự ( I Cô rinhto 11:27-32).
  2. Tần Số Dự tiệc Thánh

Thánh kinh không nói cụ thể điều này. Sau Lễ ngũ Tuần, các tín hữu bẻ bánh từ nhà này sang nhà khác, những câu này không chứng minh họ dự lễ Tiệc Thánh mỗi ngày ( Công vụ 2:46). Thứ nhất, không thấy rõ, “ bẻ bánh” trong câu này nói một điều nào khác hơn cùng dựa bữa thông công cùng nhau. Thứ nhì, bản văn thậm chí không hàm ý những điều đã được làm ở đây là được làm hang ngày tại mỗi nhà. Tại  Trôách, các tín hữu hiển nhiên đã đưa Tiệc Thánh vào buổi nhóm ngày đầu tuần của họ ( 20:7). Bất luận Hội Thánh cử hành Thánh lễ thường xuyên đến mức nào đi nữa, thì cũng nên dành đủ thời gian, để thánh Lễ này không bị “ đính tạm” vào buổi nhóm.

  1. Một vài thắc mắc

1.        nên cử hành Tiệc Thánh vào buổi nhóm nào của Hội Thánh?

Gương mẫu của Hội Thánh đàu tiên trả lời là Cháu nhật. nhưng vì là một bữa ăn tối , nên dường như                 thích hợp  để cử hành trong một buổi nhóm tối Chúa Nhật, ít nhất cũng là đôi khi.

  1. Có nên chỉ cử hành trong Hội Thánh thôi? Điều này dường như là khuôn mẫu bình thường ( I Cổinhto 11:18-20).
  2. Có nên chỉ để thuộc viên Hội Thánh đượcự Tiệc Thánh? Một lần nữa, đây dường như là gương mẫu của Tân ước, vì chỉ những tín hữu chịu Bắptem rối mới được lien hiệp rõ ràng với một hội chúng địa phương. Những khách thăm có nên bị loại trừ nếu họ là những tín hữu không? Không nhất thiết như vậy. theo như phép lịch  sự họ có thể dự phần. nhưng vì cớ công tác kỷ luật của Hội Thánh địa phương và mỗi thông công bên trong Hội Thánh địa phương có lien hệ đến Tiệc Thánh, nên thường là những ai lien hiệp rõ ràng với Hội Thánh địa phương đó mới nên dự Lễ Tiệc Thánh của nhóm người đó.
  3. BỮA TIỆC YÊU THƯƠNG

Như là một phần của buổi lễ được mở rộng có bao gồm Tiệc Thánh, cũng có một bữa ăn đầu đủ cũng được ăn trong Hội Thánh và bởi Hội Thánh. Bữa tiệc yêu thương này được nhắc đến cụ thể trong II Phierơ 2:13( trong một vài thủ bản); Giu đe 12; và được hàm ý trong I Cô rinhto 11:20 ( và có lẽ cũng trong công vụ 2:42,46; 6:1).

Bất luận nguồn gốc bữa ăn này đến từ đâu ( những bữa tiệc tùng của dân ngoại, những bữa ăn thông thường của người Do thái; ước muốn của CDN muốn tránh thịt cúng thần tượng,vvv….), bữa tiiecj này rời vào chỗ bị lạm dụng trong thời điểm Phao lô viết ICorinhto. Có người dung đó làm ớ tham ăn, lấy cho riêng mình càng nhiều càng tốt, và không chịu chia sẻ phần mình mang theo cho người khác. Phao lô dạy Hội Thánh phải để cho tín hữu ăn ở tại nhà hơn là phủ nhận những ý tưởng về sự thông công và tình yêu thương ngày càng không  được tán thành, và ngày càng khônbg được tán thành, và ngày nay hiếm khi thấy thực hiện. sự kiện Phao Lô đã có thể khuyên đình chỉ nó trong Hội Thánh đã loại trừ nó khỏi thnahs lễ.

  1. LỄ RỬA CHÂN

Theo phong tục phổ thông của phương đông do ảnh hưởng của những con đường đầy bụi hoặc bùn đát trên những đôi chân mang giày xăng đan, trong buổi Tiệc Thánh Chúa đã rửa và lau chân cho các môn đồ ( Giăng 13:1-20). Hành động này nhằm làm tấm gương khiêm nhường và hạ mình ( câu 15), làm người khuyên bảo hãy tha thứ nhau ( câu 14) và bài học về nhu cầu tẩy sạch  trong nếp sống Cơ đốc ( câu 10). Lễ báp tem làm biểu tượng sự tẩy uế của sự tha tội, lễ rửa chân là bieur tượng cho sự tẩy uế cần thiết cho mỗi thông công.

Những người tập trung vào sự tẩy sạch thì tìm lý do để tiếp tục giũ điều này như một thánh lễ ngày nay. Những người nhấn mạnh tấm gương tha thứ không cảm thấy cần phải thực hiện nghi lễ này nhưng đúng hơn cần thực hành những chân lý thuộc linh được minh họa qua nghi lễ này. Đúng là lời khuyên noi gương Đấng Christ trong câu 14, 15 liên hẹ đến sự tha thứ trong tinh thần khiêm nhường hơn là Đức Chúa Trời tha thứ những bước lỗi lầm của chúng ta trong cuộc sống. vậy thì điều này sẽ đưa ra lập luận phản đói việc xem sự rửa chân là thánh lễ.

( theo Thần học căn bản, Charles C. Ryrie )




Comments

comments

About The Author

Number of Entries : 217

Liên Phái Thánh Kinh Thần Học Viện Việt Nam Website đang xây dựng

Scroll to top