PHÚC ÂM VÀ SỰ BIẾN ĐỔI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA CÁC TÍN ĐỒ TIN LÀNH TẠI VIỆT NAM Reviewed by Momizat on . Viện thần học V.I.B.I (vibiwebsite.com) xin trân trọng giới thiệu tác phẩm :  PHÚC ÂM VÀ SỰ BIẾN ĐỔI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA CÁC TÍN ĐỒ TIN LÀNH TẠI VIỆT NAM (Bài Viện thần học V.I.B.I (vibiwebsite.com) xin trân trọng giới thiệu tác phẩm :  PHÚC ÂM VÀ SỰ BIẾN ĐỔI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA CÁC TÍN ĐỒ TIN LÀNH TẠI VIỆT NAM (Bài Rating:
You Are Here: Home » Mục Vụ » Bài viết phân tích » PHÚC ÂM VÀ SỰ BIẾN ĐỔI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA CÁC TÍN ĐỒ TIN LÀNH TẠI VIỆT NAM

PHÚC ÂM VÀ SỰ BIẾN ĐỔI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA CÁC TÍN ĐỒ TIN LÀNH TẠI VIỆT NAM




stained-glass_0

Viện thần học V.I.B.I (vibiwebsite.com) xin trân trọng giới thiệu tác phẩm : 

PHÚC ÂM VÀ SỰ BIẾN ĐỔI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA CÁC TÍN ĐỒ TIN LÀNH TẠI VIỆT NAM

(Bài viết phục vụ cho buổi tọa đàm do Viện Can Dự Toàn Cầu – IGE, Viện Nghiên Cứu Tôn Giáo Việt Nam và Hội Việt – Mỹ đồng tổ chức tại Hà Nội ngày 28/11/2012. Chủ đề: PHÚC ÂM VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM)

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: Rev. Nguyễn Hữu Mạc – Hội Trưởng Tổng Hội Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc)

I – DẪN NHẬP

Trong tác phẩm: Văn Hóa Gia Đình Việt Nam Và Sự Phát Triển tác giả viết: “Con người sở dĩ trở thành con người, một phần căn bản là do nó có đời sống tâm linh” [1]. Nghĩa là tác giả đã thừa nhận: là con người thì ai cũng đều có Đời Sống Tâm Linh. Điều này hoàn toàn phù hợp với Lẽ Thật là Lời của Đức Chúa Trời được chép trong Thánh Kinh rằng:  CHÚA, Đức Chúa Trời nắn lên loài người từ bụi đất, hà sinh khí vào lỗ mũi và người trở nên một linh hồn sống (Sáng thế 2: 7; BDM). Tác giả này cũng khẳng định: “Giá trị văn hóa tâm linh gia đình vẫn tồn tại vĩnh cửu chừng nào con người còn tồn tại” [2]. Trong tác phẩm: Văn Hóa Tâm Linh  một tác giả khác cũng cho rằng: “Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là miềm tin trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo” [3]. Bên cạnh đó, nếu xem xét trong suốt chiều dài phát triển lịch sử tư tưởng văn hóa của dân tộc Việt Nam (khoảng ngót bốn ngàn năm) thì thấy: Người Việt có đời sống tâm linh hết sức phong phú. Trong đó có những tôn giáo “ngoại nhập” như: Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo, Công giáo . . . ; cũng có những tôn giáo “nội sinh” như: Cao đài, Hòa hảo . . . Ngoài ra người Việt còn có tín ngưỡng rất đa dạng như: thờ Mẫu, thờ Thành Hoàng làng, và đặc biệt là thờ cúng tổ tiên, ông bà. Như vậy, có thể thấy người Việt rất coi trọng đời sống tâm linh.

Trong số các tôn giáo “ngoại nhập” thì đạo Tin Lành thâm nhập vào Việt Nam tương đối muộn so với một số tôn giáo khác (Tổng hội Hội Thánh Tin Lành Việt Nam – miền Bắc và Tổng liên hội Hội Thánh Tin Lành Việt Nam – niềm Nam đã làm Lễ kỷ niệm 100 năm ngày Tin Lành đến Việt Nam vào tháng 06/2011). Tuy nhiên, dù có xuất hiện hơi muộn nhưng như Thánh Phao-lô đã nói: Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Phúc Âm vì đây là quyền năng của Đức Chúa Trời để cứu mọi người tin, trước là người Do Thái và sau là người Hy Lạp (Rô-ma 1: 16; BDM). Trên tinh thần ấy các tín hữu Tin lành luôn tin rằng: Họ đang thờ phượng một Đấng Hằng Sống, Ngài là Em-ma-nu-en (tức là Đức Chúa Trời ở cùng họ), và do đó họ hoàn toàn được hưởng mọi ân sủng, mọi năng quyền đến từ Đấng Tối Cao mà họ đang thờ phượng, và vì thế từ trong sâu thẳm tâm linh của họ, họ luôn tâm niệm phải bày tỏ các Mỹ Đức mà Đấng Christ đã dạy dỗ họ qua mọi khía cạnh của đời sống xã hội. Để qua đó không chỉ “người Do-thái” mà cả “người Hy-lạp” cũng “được cứu”. Bởi thế, dù số lượng tín hữu Tin Lành ngày nay trên cả nước chưa phải là đông so với các tôn giáo khác, nhưng chính lối sống tràn đầy tình yêu thương, sự nhẫn nhịn, sự chịu đựng, sự khiêm nhu . . . đã có ảnh hưởng nhất định trong xã hội Việt Nam.

Tất nhiên, trong quá trình thâm nhập và phát triển Phúc Âm của Đức Chúa Trời tại Việt Nam không phải không có những sự hiểu lầm không đáng có. Nhưng lớn hơn hết vẫn là sự biến đổi do Đức Chúa Trời tác động trong đời sống mỗi tín hữu để rồi chính từ đời sống đã được biến đổi của họ đã tạo ảnh hưởng tốt lên đời sống của xã hội trong quá khứ, trong hiện tại, và trong cả tương lai nữa.

Bài viết này nhằm tìm hiểu về ảnh hưởng của Phúc Âm đến sự biến đổi trong đời sống văn hóa của các tín hữu Tin Lành tại Việt Nam.

 

II – MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHUNG

A – PHÚC ÂM

1. Phúc Âm là gì?

Trong bài: Phúc Âm Hóa – Tân Phúc Âm Hóa, linh mục Giuse Phan Tấn Thành viết: “Phúc-âm-hóa” được dịch bởi evangelization (tiếng Anh); évangélization (tiếng Pháp); evangelizatio (tiếng Latinh)” và cho rằng: Các từ này đều bắt nguồn từ tiếng Hy-lạpeuangelion (danh từ) có nghĩa là Tin vui, Tin Mừng, còn euangelizo, euangelizomai (là động từ), euangelistes có nghĩa là: người đưa Tin Mừng [4].

Tuy nhiên, từ Phúc Âm trong tiếng Việt lại “vay mượn” từ chữ Hán, cụ thể là: (fú yin): có nghĩa là: tin vui, tin mừng, tin lành, tin có lợi cho công chúng nói chung [5]. Như vậy, có thể hiểu một cách nôm na rằng: Phúc Âm chính là: tin mừng hay tin lành.

Về mặt “chữ nghĩa” thì như vậy; đến đây nảy sinh một số vấn đề: Vậy thì Phúc Âm (hay Tin Lành)  đến từ đâu? Bản chất của Phúc Âm là gì mà lại có ảnh hưởng lớn lao xuyên mọi nền văn hóa của nhân loại như vậy?

Để trả lời những câu hỏi này chúng tôi xin đưa ra một “tiên đề”  là: Các tín hữu Tin Lành luôn tin rằng: Đức Chúa Trời là Đấng Tự Hữu, Hằng Hữu, có một và thật, Ngài tự  mạc khải () Ngài cho nhân loại. Nếu Ngài không “tự bày tỏ”  thì nhân loại không biết gì về Ngài hết. Ngài “tự bày tỏ” cho nhân loại thông qua hai con đường: Một là: Sự mạc khải tổng quát, ấy là qua cõi thiên nhiên, qua sự vận hành của vũ trụ vạn vật và qua chính bản thân con người – một tạo vật vượt trội trên tất cả các tạo vật khác; bởi họ được Đức Chúa Trời ban cho phần tâm linh và bởi đó, con người có thể tương giao với Đức Chúa Trời – Đấng đã tạo ra chính con người. Thứ hai: Ngài “tự bày tỏ” Ngài cho nhân loại thông qua những “con đường” mạc khải đặc biệt; cụ thể là: Qua Lời của Ngài được ghi lại bằng ngôn ngữ của con người, ấy là Thánh Kinh (gồm Cựu Ước & Tân Ước). Bởi có lời xác quyết rằng: Cả Kinh Thánh đều được Đức Chúa Trời thần cảm, có ích cho việc dạy dỗ chân lý, bác bỏ điều sai trái, sửa chữa lỗi lầm, đào luyện con người sống công chính,  hầu cho người của Đức Chúa Trời được trang bị đầy đủ và sẵn sàng để làm mọi việc lành  (II Ti-mô-thê 3: 16-17; BDM). Vì vậy; tín đồ Tin Lành luôn tin: toàn bộ 66 sách, 1189 chương và khoảng 31 102 câu trong Thánh Kinh đều là LỜI ĐỨC CHÚA TRỜI; đồng thời coi đó không chỉ là những lời hứa tuyệt vời mà còn là những “mệnh lệnh” nhưng tràn đầy ân sủng mà họ phải tin, suy ngẫm và thực hành trong suốt cuộc đời làm “khách lữ hành” của họ. Nhưng sự mạc khải cao trọng nhất và cũng là đặc biệt nhất là Đấng Christ đã nhập thể để không chỉ “giãi bày”  Đức Chúa Trời cho nhân loại mà còn là để cứu rỗi nhân loại ra khỏi vòng trói buộc của tội lỗi và sự chết; qua sự Giáng Sinh, sự chịu khổ nạn và sự Phục Sinh của Ngài.

Trong “bối cảnh”: Chẳng có ai công chính cả, dù một người cũng không. Chẳng có ai hiểu biết. Chẳng có ai tìm kiếm Đức Chúa Trời; Tất cả đều lầm lạc, Đều trở thành vô ích; Chẳng ai làm điều lành, Không được lấy một người. (Rô-ma 3: 10-12; BDM). Điều đó cũng đồng nghiã “cả nhân loại” đều bị hư mất và phải bị “phân cách” với Đấng dựng nên mình (Ê-sai 59: 2); và họ hoàn toàn không có khả năng để “khôi phục” mối tương quan với Đấng Tạo Hóa, cũng có nghĩa là nơi chờ đón họ ở những “chương sau” của cuộc đời  họ là “hỏa ngục”. Nhưng chính bởi tình yêu thương nhân loại mà Đấng Christ phải nhập thể trong thân phận một con người. Bởi thế; khi Chúa Cứu Thế Giê-su giáng sinh thì rõ ràng: Tin Mừng, Tin Lành hay Phúc Âm của Đức Chúa Trời đã được ban cho nhân loại. Sau này  Thánh Phao-lô xác nhận: Chúng tôi yêu mến anh chị em đến nỗi mong ước được chia sẻ cho anh chị em, không những Phúc Âm của Đức Chúa Trời, mà cả đời sống chúng tôi nữa, vì anh chị em đã trở nên những người yêu quý của chúng tôi. Thưa anh chị em, anh chị em còn nhớ công lao khó nhọc của chúng tôi. Trong khi truyền giảng Phúc Âm của Đức Chúa Trời cho anh chị em, chúng tôi đã ngày đêm làm việc để khỏi làm gánh nặng cho một ai trong anh chị em  (II Tê-sa-nô-ni-ca 2: 8-9; BDM). Nhưng điều quan trọng hơn là chính Chúa Cứu Thế Giê-su cũng phán: “Giờ đã điểm, Nước Đức Chúa Trời đã đến gần, hãy ăn năn và tin nhận Phúc Âm.” (Mác 1: 14; BDM).

Vậy, không thể có cách nói nào khác rằng: Phúc Âm Là Đến Từ Đức Chúa Trời, xuất phát từ tình yêu thương nhân loại của Ngài.

Trong một cuộc “đàm luận” giữa một “giáo sư” đến từ trời là Chúa Cứu Thế Giê-su với một giáo sư đến trong vòng dân Do-thái có tên là Ni-cô-đem thì vị “giáo sư” đến từ trời đã “tỏ” cho vị giáo sư trong vòng “tuyển dân” rằng:Vì Đức Chúa Trời yêu thương nhân loại, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, để ai tin nhận Đấng ấy sẽ không bị hư mất nhưng được sự sống vĩnh phúc. (Giăng 3: 16; BDM). Đến đây có lẽ không cần bàn luận hay dùng kỹ thuật exegesis (giải kinh học) hoặc nghệ thuật hermeneutics (giải kinh ứng dụng); thì cũng thấy ngay được bản chất của Phúc Âm là tình yêu thương toàn nhân loại của Đấng Tạo Hóa. Có thể nói: sợi chỉ đỏ xuyên suốt Thánh Kinh đều để bày tỏ tình yêu thương của Đấng Tạo Hóa dành cho nhân loại – một tạo vật kỳ diệu, độc nhất vô nhị, mà chính vì nó Đấng Tạo Hóa sẵn sàng nhập thể để chịu khổ nạn. Tất nhiên, có điều cần lưu ý ở đây là Phúc Âm đầy ân sủng thì Đức Chúa Trời đã ban cho nhân loại rồi, nhưng để được hưởng món quà vô giá, nhưng lại “miễn phí” đó thì tất cả “tội nhân” cần phải “tin nhận” Chúa Cứu Thế; đồng thời phải thực hành đức tin ấy, thì sự “tin nhận” mới chu đáo. Đến đây; lại một câu hỏi nữa cần đặt ra, ấy là: Nếu bản chất của Phúc Âm là Tình Yêu Thương; vậy thì điều căn bản nhất của Phúc Âm là gì?

Các Cơ Đốc nhân đều biết, sau khi nói đến hàng loạt những Linh Ân mà Thánh Linh của Đức Chúa Trời ban cho tất cả những ai tin Chúa Cứu Thế, thì Thánh Phao-lô có khuyên rằng: Hãy khao khát tìm kiếm những ân tứ lớn lao hơn. Bây giờ tôi chỉ cho anh chị em một con đường tốt đẹp hơn  (I Cô-rinh-tô 12: 31; BDM). Đó là toàn bộ chương 13 của sách này, ông không chỉ nhấn mạnh về tình yêu thương, và cho rằng: Dù nhận được nhiều ân tứ đến từ Thánh Linh của Đức Chúa Trời nhưng nếu không có tình yêu thương thì cũng trở nên vô nghĩa; bên cạnh đó ông cũng chỉ ra rằng: bây giờ còn ba điều này: Đức Tin, Hy VọngTình Yêu Thương. Nhưng điều lớn hơn hết là tình yêu thương. Theo thiển ý của chúng tôi có lẽ cũng không cần giải thích gì thêm; đây chính là những điều căn bản nhất của Phúc Âm.

Đã có trường hợp một vài học giả ngoài Cơ Đốc khi nghiên cứu về Cơ Đốc giáo, đọc Kinh Thánh thấy Kinh Cựu Ước chủ yếu nói về giao ước giữa Đức Chúa Trời và dân Do-thái, sau này đọc trong Tân Ước (giao ước mới giữa Đức Chúa Trời và nhân loại nói chung) thấy có câu: Đó là mười hai sứ đồ Đức Giê-su sai đi và dặn bảo: “Đừng đi vào vùng dân ngoại quốc hay thành phố người Sa-ma-ri.Nhưng hãy đến cùng bầy chiênCtd: bầy cừu  lạc mất của nhà Y-sơ-ra-ên.  (Ma-thi-ơ 10: 5-6; BDM) thì  vội vã kết luận rằng: Như vậy, Cơ Đốc giáo là tôn giáo của người Do-thái, Thánh Kinh chỉ là của người Do-thái, sự Giáng Sinh, sự chịu khổ nạn và sự Phục Sinh của Chúa Cứu Thế cũng chỉ dành để cứu dân Do-thái. Nhưng thực chất có phải như vậy không? Nếu hiểu được rằng Đức Chúa Trời dựng nên cả loài người thì Ngài yêu toàn thể nhân loại, chứ không riêng gì dân Do-thái, đơn giản Ngài chỉ chọn dân Do-thái là dân tuyển của Ngài để phục vụ ý muốn của Ngài, thì sẽ không có sự hiểu lầm đáng tiếc trên. Cũng lưu ý rằng: ngay từ khi chọn Áp-ra-ham làm tổ phụ của dân Do-thái thì Đức Chúa Trời đã hứa với cả ba đời nhà Áp-ra-ham rằng: các dân tộc trên thế giới sẽ nhờ ngươi mà được phước; lần thứ nhất Ngài hứa với Áp-ra-ham trong Sáng thế 12: 3; lần thứ hai Ngài hứa với Y-sac là con Áp-ra-ham trong Sáng thế 26: 4; lần thứ ba Ngài hứa với Gia-cốp là cháu nội của Áp-ra-ham trong Sáng thế 28: 14. Chưa hết, sau khi Phục Sinh Chúa Cứu Thế Giê-su lại ban “Đại mạng lệnh” cho tất cả các tín hữu rằng: Vậy, hãy đi làm cho muôn dân thành môn đệ Ta, làm phép báp-tem cho họ nhân danh Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh,  dạy họ giữ mọi điều Ta đã truyền cho các con. Và này, Ta hằng ở cùng các con luôn cho đến tận thế.”  (Ma-thi-ơ 28: 19-20; BDM); rồi ngay trước khi “thăng thiên về trời”, Ngài cũng phán với các môn đồ của Ngài rằng:Nhưng các con sẽ nhận lãnh quyền năng khi Đức Thánh Linh đến trên các con, và các con sẽ làm nhân chứng cho Ta tại Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến tận cùng quả đất.”  (Công vụ 1: 8; BDM). Điều này có nghĩa là Phúc Âm của Đức Chúa Trời là dành cho toàn thể nhân loại; nhiệm vụ rao truyền Phúc Âm là dành cho các Cơ Đốc nhân mọi thời đại. Như thế có thể nói: Thời Cựu Ước Đức Chúa Trời chỉ chọn một dân tộc để họ phục vụ Ngài, chỉ vì ý muốn Ngài như vậy; Thánh Kinh được ghi lại chỉ với một vài thứ ngôn ngữ nhưng thực ra giá trị của Thánh Kinh là “xuyên văn hóa”; mạng lệnh rao truyền Phúc Âm là xuyên suốt mọi thời đại và vì vậy cũng luôn mang tính “xuyên văn hóa”. Bởi một lý do dễ hiểu: Nước Chúa không hề bị giới hạn bởi địa lý, bởi quốc gia, bởi một dân tộc nào, mà là toàn thể nhân loại. Với số lượng Cơ Đốc nhân khoảng 2 tỷ ở nhiều quốc gia trên toàn thế giới hiện nay, chúng tôi thiết nghĩ, chỉ riêng điều này đã minh chứng xác đáng về “tính xuyên văn hóa” của Phúc Âm.

Tuy nhiên vấn đề đặt ra ở đây là: Với Việt Nam – đất nước đã có nền văn hiến hàng ngàn năm với nhiều truyền thống nhân văn, với nhiều phong tục tốt đẹp, nhưng cũng không loại trừ một số hủ tục thì khi thâm nhập vào Việt Nam Phúc Âm đãsẽ còn gặp những điều gì? Bên cạnh đó, đời sống của chính những người đã từng sống trong truyền thống như trên có sự biến đổi ra sao về mọi khía cạnh trong đời sống xã hội nói chung?

Để trả lời câu hỏi này chúng ta cần phải tìm hiểu một khái niệm nữa là văn hóa và sự hình thành những giá trị cốt lõi của nền văn hóa Việt Nam trong dòng chảy của lịch sử.

 

B – VĂN HÓA

1. Văn hóa là gì?

Khi nói đến Văn hóa là chúng ta đã “động chạm” đến một khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, điều này không quá khó hiểu. Bởi cớ, khái niệm này nó liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần củacon người.khái niệm về văn hóa động chạm tới đời sống cả vật chất đến tinh thần, nên nếu cố đi tìm một định nghĩa chu đáo về văn hóa thì  gần như bất khả thi; do nó liên quan đến nhiều lĩnh vực như: dân tộc học, nhân loại học, dân gian học, xã hội học . . . nên  mỗi định nghĩa chỉ phản ánh được khía cạnh nào đó của khái niệm rộng lớn này. Thậm chí ngay phân loại các định nghĩa về văn hóa cũng đã có nhiều cách. Ví dụ: 1) Định nghĩa theo lối miêu tả thì:Văn hóa  là một tổng thể phức hợp gồm kiến thứcđức tinnghệ thuậtđạo đứcluật phápphong tục, và bất cứ những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên của xã hội; 2) Định nghĩa theo tiêu chí lịch sử thì: văn hóa chính là bản thân con người, cho dù là những người hoang dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống; 3) Các định nghĩa xét theo nguồn gốc với nghĩa rộng nhất thì:  văn hóa chỉ tổng thể những gì được tạo ra, hay được cải biến bởi hoạt động có ý thức hay vô thức của hai hay nhiều cá nhân tương tác với nhau và tác động đến lối ứng xử của nhau  . . . .[6]. Theo một nhà nghiên cứu về văn hóa đã thống kê được rằng: có tới trên 300 định nghĩa về văn hóa [7]. Tuy nhiên, chúng ta đang nói về mối tương quan giữa Phúc Âm với Văn Hóa Việt Nam, bởi thế theo thiển ý của chúng tôi nên áp dụng định nghĩa về Văn Hóa theo tiêu chí của Việt Nam. Theo Từ Điển Tiếng Việt thì: Văn Hóa là Tổng thể nói chung những giá trị tinh thần và vật chất do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử [8]. Với định nghĩa trên cho chúng ta thấy: rõ ràng có Văn Hóa về Tinh Thần  hay Văn Hóa Phi Vật Thể, Văn  Hóa về Vật Chất hay Văn Hóa Vật Thể. Ví dụ: Truyền thống “tôn sư trọng đạo”, hát Xoan ở Phú Thọ, những làn điệu Quan Họ ở vùng Kinh Bắc, hát Chầu Văn ở Nam Định . . . là những giá trị văn hóa phi vật thể; bia Tiến sĩ ở Văn Miếu (Hà Nội), Chùa Một Cột ở Hà Nội, Nhà Thờ Đá ở Ninh Bình . . . là những giá trị văn hóa vật thể. Trên cơ sở đó, có thể nói rằng:  chỉ có những sản phẩm của văn hóa mới có sản phẩm xấu hoặc sản phẩm độc hại chứ hoàn toàn không có cái gọi là văn hóa xấu hay văn hóa độc hại như lâu nay người ta vẫn hay nhầm lẫn.

Vậy, căn cứ theo định nghĩa trên chúng ta cùng điểm qua một cách hết sức sơ lược sự hình thành giá trị cốt lõi của văn hóa Việt Nam.

2. Sơ lược về “định hình” văn hóa Việt Nam.

          Trong Thiên Thứ Nhất, phần Tự Luận của cuốn: Việt Nam Văn Hóa Sử Cương học giả Đào Duy Anh đã nhận định: “Chính vì những điều kiện tự nhiên về địa lý khiến mỗi dân tộc sinh hoạt ở trên cơ sở kinh tế khác nhau, cho nên cách sinh hoạt cũng thành khác nhau vậy. Bởi thế muốn nghiên cứu văn hóa của một dân tộc, trước hết phải xem xét dân tộc ấy sinh trưởng ở trong điều kiện địa lý thế nào” [9]. Theo thiển ý của chúng tôi, nhận định của học giả này là không sai.

Xin lấy  một ví dụ đã từng xảy ra trong lịch sử nước ta để “làm chứng” cho nhận định trên:

Ấy là, vào thời Lê Trung Hưng trong những năm từ cuối thế kỷ thứ 16 đến cuối thế kỷ thứ 17 thì có những cuộc di dân lớn từ các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An vào xứ Thuận Hóa và sau này là vào tận xứ Đồng Nai, Nam Bộ [10]. Từ chỗ là dân sống ở những vùng có điều kiện địa lý tự nhiên và khí hậu rất khắc nghiệt; cuộc sống của người dân quanh năm đầu tắt mặt tối mà vẫn nghèo khổ; nhưng khi vào đến các tỉnh trong miền Nam thì gặp nơi đất rộng người thưa, khí hậu ôn hòa, làm một vụ ăn cả năm. Những điều kiện thuận lợi như vậy, đã làm cho chính những người ở xứ Thanh Nghệ cực kỳ khó khăn với bản chất chịu thương chịu khó, tằn tiện và kín đáo khi xưa đã dần dần biến đổi theo thời gian, trở nên bộc trực và phóng khoáng mà tính cách này đã được khái quát bằng danh hiệu: “anh hai Nam bộ”.

Nếu  theo “nhãn quan” trên, về khía cạnh điều kiện địa lý tự nhiên thì Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam Á, sinh sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp, mà cụ thể là trồng lúa nước. Theo nghiên cứu của Giáo sư Viện sĩ Trần Ngọc Thêm thì có hai loại hình văn hóa là: loại hình văn hóa gốc nông nghiệp và loại hình văn hóa gốc du mục, và Văn hóa Việt Nam thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp [11]. Cũng theo tác giả này thì đặc trưng của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp bao gồm: 1) Trong cách ứng xử với môi trường thiên nhiên: Do đời sống phụ thuộc vào sản xuất cây nông nghiệp, vì thế họ buộc phải sống định cư, họ luôn có ý thức tôn trọng và muốn sống hòa hợp với thiên nhiên; có lẽ trên thế giới này ít có dân tộc nào lại coi trọng Ông trời như người Việt, chỉ cần mở miệng ra là lạy trời [12]. 2) Về mặt nhận thức thì hình thành lối tư duy tổng hợp kéo theo biện chứng; vì cái mà người nông dân quan tâm là mối quan hệ giữa các yếu tố chứ không quan tâm riêng rẽ từng yếu tố. Tư duy tổng hợp thì bao quát mọi yếu tố, còn biện chứng thì chú ý đến mối quan hệ giữa chúng [13]. Có thể nhìn thấy điều này qua kho tàng tục ngữ, thành ngữ và ca dao của Việt Nam, ví dụ: Nước mưa là cưa trời [14]; hay:  Kiến cánh vỡ tổ bay ra, bão táp mưa sa tới gần [15]. 3) Về mặt tổ chức cộng đồng thì người làm nông nghiệp luôn coi trọng tình nghĩa, trong đạo đức, trọng văn, tôn trọng phụ nữ[16]. Theo truyền thống thì người Việt rất coi trọng phụ nữ, ví dụ: có những thành ngữ như: Nhất vợ nhì trời, lệnh ông không bằng cồng bà, ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng . . . và hiện tại  còn nhiều dân tộc ở Việt Nam con cái vẫn mang họ mẹ, hoặc có tục lệ con gái đi “bắt chồng”. 4) Trong lối ứng xử với môi trường xã hội thì người làm nông nghiệp luôn có thái độ: dung hợp trong tiếp nhận, mền dẻo và hòa hiếu trong giao tiếp [17].

Chính từ những đặc trưng của loại hình văn hóa nông nghiệp đã dẫn đến một số tín ngưỡng: Một là, việc tôn sùng hình thức sản xuất ra lúa gạo để duy trì đời sống và tôn sùng sự sinh sôi nảy nở của con người, từ đó nảy sinh tín ngưỡng phồn thực (thờ cơ quan sinh dục của cả nam và nữ). Hai là, do canh tác lúa nước nên hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên, vì thế lại dẫn đến tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, họ cho rằng sấm, chớp, mưa, bão đều do một vị thần cai quản vì thế có Thần Mây (Pháp Vân), Thần Mưa (Pháp Vũ), Thần Sấm (Pháp Lôi), Thần Chớp (Pháp Điện), từ sùng bái tự nhiên người làm nông nghiệp còn thờ cả một số động vật như hổ, rắn, cá, chim và con vật tưởng tượng là rồng . . . Trong cộng đồng người Việt, ngay từ thượng cổ họ cũng đã phân biệt được trong con người tồn tại phần vật chất là cái thể xác, cái hiện hữu cảm xúc được; và phần tinh thần là cái rất khó để hiểu và nắm bắt được, vì thế đã thần thánh hóa nó thành linh hồn; họ cũng tin rằng: khi chết thì thân thể trở về đất, còn linh hồn thì vẫn tồn tại; từ đây lại nảy sinh tín ngưỡng sùng bái con người [18]. Với tín ngưỡng này thì người Việt Nam đã thực hiện triệt để về mặt qui mô: Trong gia đình dòng họ thì thờ ông bà tổ tiên; ra đến cộng đồng làng xã thì thờ thành hoàng làng; ở qui mô quốc gia thì có Giỗ Tổ mà ngày nay đã được thừa nhận là Quốc Giỗ tiến hành vào ngày 10 tháng Ba Âm lịch hàng năm (hiện tượng này chỉ duy nhất có ở Việt Nam).

Tât nhiên, văn hóa của một dân tộc còn gồm nhiều khía cạnh nữa, nhưng ở đây chúng tôi chỉ sơ qua một vài điểm có liên quan đến chủ đề của hội thảo.

Vậy với sự hình thành nền tảng văn hóa như trên, khi vào Việt Nam thì có những điều gì  xảy ra với sự truyền bá Phúc Âm và Phúc Âm liệu có thể tạo ảnh hưởng gì trên đời sống của những người tin và cộng đồng xung quanh?

 

III – ẢNH HƯỞNG CỦA PHÚC ÂM VỚI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TÍN HỮU

1. Phúc Âm và văn hóa Việt Nam.

          Vào tháng 6/2011 Tổng liên hội Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) và Tổng hội Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) đã long trọng cử hành đại lễ kỷ niệm 100 năm ngày Tin Lành đến Việt Nam. Tuy nhiên, nếu nói rằng đến năm 1911 thì Phúc Âm của Đức Chúa Trời mới đến với dân Việt Nam thì lại cần phải xem lại. Bởi cớ, theo tài liệu: Tóm Lược Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam  có ghi lại rằng: Vào đầu thời Lê Trung hưng, đời vua Trang Tông Lê Duy Ninh, năm Quí Tỵ (1533 S.C), niên hiệu Nguyên Hòa có một người Tây tên là Inekhu đi đường bể vào giảng đạo Thiên Chúa ở làng Ninh Cường, làng Quần Anh thuộc huyện Nam Châu (tức huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định ngày nay) và ở làng Trà Lũ huyện Giao Thủy [19]. Vì vậy Công giáo Việt Nam cho rằng năm 1533 là thời điểm Đức Chúa Trời đã ban Phúc Âm cho người Việt. Tuy nhiên, theo thiển ý của chúng tôi thì thời điểm Phúc Âm đến VN vào lúc nào? Sớm hay muộn? Không quan trọng bằng sự kiện Phúc Âm đã được rao truyền tại VN.

Một điều cần nhắc lại ở đây là: Tác giả của Thánh Kinh chính là Đức Thánh Linh, cũng chính Ngài đã “tuyển chọn” và “soi dẫn” để các “trước giả” ghi lại những gì Ngài phán truyền bằng ngôn ngữ của nhân loại. Tuy nhiên, Ngài vẫn tôn trọng những cá tính, phong tục, truyền thống của các “trước giả” chứ hoàn toàn Ngài không áp đặt và bắt họ ghi chép theo kiểu đọc và chép chính tả. Vì thế, trong Thánh Kinh, chúng ta thấy hàng loạt những phong tục, tập quán hoàn toàn xa lạ với nền văn hóa gốc nông nghiệp như ở Việt Nam. Bởi cớ, các “trước giả” của Thánh Kinh đều sinh sống ở vùng dân du mục, cho nên nền văn hóa mà họ  tiếp thu thuộc loại hình văn hóa gốc du mục; mà loại hình văn hóa này lại mang những đặc trưng hoàn toàn trái ngược với loại hình văn hóa gốc nông nghiệp của người Việt. Ví dụ: 1) Về lối ứng xử với tự nhiên thì không tôn trọng tự nhiên, thích chinh phục tự nhiên, thích di chuyển chứ không ưa tĩnh tại; 2) Về lĩnh vực nhận thức thì thiên về tư duy phân tích; 3) Trong tổ chức cộng đồng thì coi trong sức mạnh, coi trọng nam giới, coi trọng cá nhân dẫn đến tranh đua quyết liệt; 4) Trong ứng xử xã hội thì độc đoán trong tiếp nhận, cứng rắn và hiếu thắng trong giao tiếp và đối phó [20]. Từ đó dẫn đến hậu quả là các khía cạnh thuộc loại hình văn hóa gốc du mục cũng được các “trước giả” đưa vào trong Thánh Kinh (nhất là các phong tục tập quán).

Chính từ sự đối lập về văn hóa như đã trình bày, nên khi Phúc Âm được rao truyền ở Việt Nam không thể tránh khỏi những sự “va chạm”. Nghĩa là khi thâm nhập vào Việt Nam Phúc Âm của Đức Chúa Trời dù mang ý nghĩa cứu rỗi phổ quát nhưng không phải chỉ gặp thuận lợi mà không vấp phải khó khăn nào. Vậy, những thuận lợi và những khó khăn ấy là gì?

Những thuận lợi: Có thể có nhiều thuận lợi trong việc truyền bá Phúc Âm tại VN, nhưng ở đây chúng tôi chỉ xin đưa ra một vài điểm sau: Thứ nhất là:  Người Việt rất sùng bái sinh hoạt về tâm linh, và luôn ngưỡng vọng thế giới tâm linh. Vì thế, nhìn đâu cũng thấy thần, tín ngưỡng của người Việt là “đa thần”. Bản chất thích sinh hoạt tâm linh này ít chịu ảnh hưởng của điều kiện kinh tế xã hội; thông thường ở một số quốc gia khác khi giàu có sung sướng thì lơ là về sinh hoạt tâm linh. Còn người Việt thì ngược lại, khi đói thì lo kiếm ăn, chỉ đến khi giàu có sung sướng mới chăm lo cho sinh đời sống tâm linh, trong dân gian Việt Nam đã có câu: No ăn, đắt bói;  đói ăn, đắt khoai [21]; thêm vào đó là tinh thần: Phú quí sinh lễ nghĩa  (富 貴 ) đã ăn sâu trong tâm trí người Việt. Thứ hai: Do có gốc rễ từ văn hóa gốc nông nghiệp nên rất tôn kính Đấng Tạo Hóa mà người Việt hay gọi là Ông Trời, vì cho rằng Ông Trời tạo dựng nên tất cả và ban cho tất cả như: mưa thuận gió hòa, buôn bán làm ăn trôi chảy, thậm chí còn tin rằng Ông Trời  can thiệp cả vào việc sinh đẻ nữa. Việc tôn kính trời bao trùm lên mọi giai tầng của xã hội không chừa ai; từ vua quan đến thường dân, từ người sang đến kẻ hèn. Ví dụ: đối với dân cày thì: Lạy trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày,  lấy bát cơm đầy, lấy rơm đun bếp . . .; với trí thức cũng tin rằng: Cho hay muôn sự tại trời, trời kia đã bắt làm người có thân, bắt phong trần phải phong trần, cho thanh cao mới được phần thanh cao . . .; với vua thì tự cho mình là Thiên Tử  () có nghĩa là con trời; các triều đại phong kiến xưa ở Việt Nam đều có lập đàn tế lễ trời đất gọi là Đàn tế nam giao. Thứ ba là:  Có bản chất hiền lành, thích hòa hiếu do đó dễ dung nạp và chấp nhận những văn hóa ngoại lai. Chính vì yếu tố này nên chỉ có ở Việt Nam mới có chuyện Tam giáo đồng nguyên () nghĩa là họ coi ba tôn giáo Nho giáo (), Phật giáo ()  và Đạo giáo () đều có chung một nguồn; bên cạnh đó còn dung hòa cả tôn giáo ngoại nhập với tín ngưỡng bản địa nữa; bởi thếcũng chỉ ở Việt Nam mới có kiểu chùa Tiền Phật (), hậu thánh (), thậm chí trong chùa (là nơi chỉ thờ Phật) thì ở Việt Nam lại có cả ban thờ Đức Thánh Trần (tức Hưng đạo đại vương Trần Quốc Tuấn một anh hùng đánh giặc Nguyên Mông thế kỷ thứ 13 S.C) tức là thờ con người cụ thể.

Về những khó khăn:  Do có sự khác biệt từ gốc rễ giữa hai nền văn hóa; cho nên khi Phúc Âm được truyền bá vào Việt Nam thì xảy ra sự “đụng chạm” là điều dễ hiểu, đó là chưa tính đến một số nguyên nhân  rất tế nhị khác không thể trình bày ở đây. Chúng tôi chỉ xin nêu ra một vài sự khác biệt.

Trước hết và cũng là gay gắt nhất đó là: Tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên. Với các Cơ Đốc nhân nói chung và tín hữu Tin Lành nói riêng thì những điều phán của Đức Chúa Trời là những mệnh lệnh không thể không vâng phục. Bởi vậy, trong 10 điều răn Đức Chúa Trời thì có một số điều được chép: Ngoài Ta ra, các ngươi không được thờ các thần khác. Các ngươi không được làm cho mình tượng theo hình dạng của bất cứ vật gì ở trên trời cao, ở trên mặt đất hay ở dưới nước. Các ngươi không được sấp mình thờ phượng các tượng ấy; vì Ta là CHÚA, Đức Chúa Trời các ngươi, Đức Chúa Trời kỵ tà. Ta hình phạt con cháu cho đến thế hệ thứ ba, thứ tư vì tội khước từ Ta của tổ tiên họ (Xuất hành 20: 3-5; BDM). Vì các tín hữu Tin Lành phải vâng phục điều này, nên họ không khấn vái trước thân xác của người đã qua đời (kể cả người thân); sở dĩ họ làm như vậy vì Thánh Kinh đã dạy rằng:  Trước khi dây bạc đứt, chén vàng bể, Bình vỡ ra bên suối, bánh xe gẫy rời ra bên giếng; Cát bụi trở về với cát bụi, Và tâm linh trở về với Đức Chúa Trời là Đấng đã ban nó  (Giáo huấn 12: 6-7; BDM), nghĩa là khi người ta đã qua đời thì phần tâm linh của người đó đã về với Đức Chúa Trời nếu là con của Ngài, còn nếu không phải là con của Ngài thì cũng phải “đến một nơi khác”, chứ không thể có một giây một phút nào để “cái phần tinh túy nhất” của con người ấy còn luẩn quẩn ở thế gian nữa, thế thì mọi sự hương khói và khấn vái không chỉ trở nên vô ích mà còn vi phạm điều răn của Đức Chúa Trời nữa. Các tín hữu Tin Lành cũng không khấn vái trước bàn thờ gia tiên; không tham dự các lễ bái ở đình, chùa, miếu, phủ là những nơi thờ Thành hoàng, thờ Phật, thờ Thánh, thờ Mẫu, đó cũng chính là những nơi sinh hoạt tâm linh chủ yếu của cộng đồng người Việt. Họ cũng không sụp lạy khấn vái các pho tượng do con người làm ra, vì họ được Thánh Kinh dạy rằng:  Các thần tượng sống như bù nhìn trong ruộng dưa chuột, Không biết nói, Phải nhờ người khiêng, Vì chúng không biết đi. Đừng sợ các thần ấy, Vì chúng không có khả năng gây hoạ, Cũng không có quyền ban phúc. . . . Mọi người đều u mê, thiếu hiểu biết, Người thợ đúc tượng nào cũng xấu hổ vì tượng chạm mình, Vì thần tượng người đúc chỉ là thần giả để lừa bịp, Chẳng có hơi thở bên trong. Các thần tượng đều không giá trị, chỉ là vật nhạo báng gạt gẫm, Đến ngày đoán phạt, chúng sẽ bị tiêu diệt (Giê-rê-mi 10: 5, 14-15; BDM). Trong khi với người Việt Nam, do đời sống định cư nên sự gắn bó trong gia đình rất bền chặt, qui mô gia đình của người Việt thường tồn tại ba đời là: Ông bà, cha mẹ, con cháu, thậm chí ngày nay nếu về các vùng nông thôn vẫn còn thấy không ít những gia đình sống trong cảnh tứ đại đồng đường (), tức là bốn đời sống chung trong một mái nhà; trong khi đó với nền văn hóa du mục thì qui mô gia đình chỉ gồm cha mẹ và con cái; do sống trong lều trại chật hẹp nên chỉ cần đứa con trưởng thành là phải nghĩ ngay đến chuyện chia tách, vì thế kết cấu gia đình rất lỏng lẻo.

Như vậy, với văn hóa Việt thì việc thờ cúng ông bà, tổ tiên đã trở thành một thứ “luật không thành văn”, ai không thờ cúng cha mẹ, ông bà, gia tiên thì không chỉ là kẻ bất hiếu (), bất nhân () mà còn bất nghĩa () nữa; ai không tham dự các sinh hoạt tâm linh của cộng đồng thì bị coi là kẻ lập dị và  tự cô lập. Vì vậy, khi một người nào đó theo đạo Tin Lành thì người ấy không chỉ bị chống đối ở ngay trong gia đình, mà còn bị chống đối cả ở ngoài cộng đồng, sự chống đối này nhiều khi rất kịch liệt.

Thứ hai là:  Định kiến không tốt về đạo Chúa, từ đó tạo ra rất nhiều sự hiểu lầm. Bởi có những điều tế nhị do lịch sử để lại trong việc truyền bá đạo của Đức Chúa Trời do các giáo sĩ Công giáo mang đến từ những thế kỷ trước; và trong suốt chiều dài hơn 400 năm (từ thế kỷ thứ 16 đến thế kỷ thứ 20) tính từ khi Công giáo có mặt ở Việt Nam. Ấy là, đi kèm theo bước chân của các giáo sĩ Công giáo là bước chân của thực dân Pháp; hậu quả là người Việt bị người Pháp thống trị ngót 100 năm. Do đó, ngay từ  trong tiềm thức của rất nhiều người Việt đã có ấn tượng không tốt với đạo của Đức Chúa Trời, thật đáng tiếc là ấn tượng này còn tồn tại đến ngày nay. Với nhiều người thì cứ thấy ai thờ Đức Chúa Trời, tin Chúa Giê-su đều cho là theo đạo thực dân, mà không hề biết rằng dưới thời Pháp thuộc chính Tin Lành cũng bị người Pháp cấm đoán.  Sau này do có nhiều giáo sĩ  người Mỹ đi truyền bá Phúc Âm, nhiều người Việt còn cho rằng Tin Lành là đạo của Mỹ, trong khi đó thực chất thì không phải như vậy. Bởi nước Mỹ mới thành lập từ thế kỷ thứ 18 (năm 1776 S.C), còn đạo Tin Lành thì có từ thế kỷ thứ 16 (năm 1517 S.C).

Ngoài hai vấn đề nêu trên vẫn còn một số nguyên nhân khác nữa đã dẫn đến Phúc Âm bị hiểu sai và khó hội nhập trong cộng đồng người Việt; nhưng chúng tôi thiết nghĩ chỉ cần nêu hai lý do trên cũng quá đủ để thấy việc truyền bá Phúc Âm cho người Việt là khó như thế nào.

Trong bối cảnh người Việt bị ảnh hưởng từ truyền thống tín ngưỡng, từ những định kiến không đáng có một cách sâu đậm như vậy; thế thì  Phúc Âm của Đức Chúa Trời khi truyền bá vào Việt Nam liệu có thể khiến lối sống của những tín hữu Tin Lành biến đổi theo xu hướng nhân văn như Thánh Kinh đã dạy, để từ đó có thể tạo ảnh hưởng tốt lên lối sống của cả cộng đồng hay không?

2. Những ảnh hưởng của Phúc Âm trên đời sống của tín đồ.

          a) Thế  giới tự nhiên và con người theo “nhãn quan” của người Tin Lành.

          Người Tin Lành tin rằng: Tin Lànhđạo () đến từ Đức Chúa Trời chứ không phải là tôn giáo sinh ra từ ý tưởng của con người. Bởi thế, những gì mà Thánh Kinh dạy đều là Lẽ Thật và chuẩn mực mà mỗi cá nhân tín đồ phải vâng phục; kể cả cách nhìn về thế giới tự nhiên và xã hội loài người.

Đối với thế giới tự nhiên thì người Tin Lành tin cả vũ trụ vạn vật, trong đó có trái đất và con người sống trên đất đều do Đức Chúa Trời tạo dựng. Đồng thời Ngài ban cho con người có quyền “quản trị trên đất” (Sáng thế 1: 26-27). Thế thì người Tin Lành chủ trương phải có “mối quan hệ đúng đắn với môi trường”, con người được phép khai thác tự nhiên một cách hợp lý và phải có trách nhiệm chăm sóc nó chứ không phải là hủy phá và tận diệt như cái cách nhân loại đang làm ngày hôm nay, có như vậy mới đúng nghĩa “quản trị” mà Đức Chúa Trời đã ban cho. Bởi vậy, nếu con người cứ tàn phá môi trường thiên nhiên, cứ hủy diệt những gì Đức Chúa Trời đã sáng tạo để thỏa mãn nhu cầu trước mắt thì chắc chắn họ sẽ phải chịu thảm họa khôn lường. Thực tế cho thấy những hiện tượng như nhiệt độ toàn trái đất không ngừng tăng lên khiến cho băng ở hai cực tan làm nước biển dâng, lũ quét, động đất do kích thích . . . đã xảy ra trong những năm đầu Thiên Niên Kỷ thứ ba là những minh chứng xác đáng cho điều này.

Đối với nhân loại thì người Tin Lành luôn vâng giữ những điều Đức Chúa Trời đã dạy dỗ trong mọi mối tương giao thuộc về các mối liên hệ xã hội như: Trong nhà thì vợ phải vâng phục chồng, chồng phải yêu thương vợ, cha mẹ phải có trách nhiệm nuôi dạy con cái, con cái phải hiếu kính với cha mẹ; ra đến ngoài xã hội thì người chủ phải công bằng với người làm thuê, người làm thuê phải có trách nhiệm với công việc chủ giao (Cô-lô-se 3: 18-22); về mặt tổ chức xã hội thì  Chúa dạy mọi công dân phải vâng phục nhà cầm quyền (Rô-ma 13: 1-3). Điều luôn được nhấn mạnh hơn hết là phải có tình yêu thương dành cho mọi người, chứ không chỉ yêu người mình thích, yêu người nào yêu mình. Không chỉ yêu bằng cảm xúc nhưng phải yêu bằng cả lý trí nữa. Trên đây không phải là ý kiến chủ quan của người Tin Lành; mà ngay những học giả ngoài Tin Lành cũng phải thừa nhận rằng: “Đạo Tin Lành là tôn giáo của tình thương và lòng bác ái . . . Tín đồ Tin Lành sẵn sàng chia sẻ, tương trợ với những bạn hữu khốn khó và xem đây là một tiêu chí của đời sống đạo” [22]. Trong mối tương quan nhân sinh này thì Thánh Kinh còn yêu cầu các Cơ Đốc nhân phải có trách nhiệm với chính bản thân mình, bởi chính thân thể là nơi “trú ngụ” tốt nhất cho  tâm linh vì Thánh Kinh đã chỉ ra rằng: Thân thể của Cơ Đốc nhân chính là Đền Thờ của Đức Thánh Linh (I Cô-rinh-tô 6: 19).

Như thế, theo tiêu chuẩn của Thánh Kinh thì cùng một lúc mỗi Cơ Đốc nhân phải đảm bảo thực hành tốt 4 mối tương quan sau: Trước hết và cao nhất là mối tương quan với Đức Chúa Trời; thứ hai là với tha nhân(他人);thứ ba là với chính bản thân; và cuối cùng là với môi sinh[23]. Rõ ràng, nếu xét về phương diện đạo đức thì có lẽ không có nền đạo đức học của triết lý nào, tôn giáo nào lại dạy dỗ chi tiết đồng thời lại mang tính toàn diện và bao quát như nền Đạo Đức học Cơ Đốc cả.

Bởi vậy, một người dù sống ở bất cứ ở quốc gia nào, dân tộc nào, dù là ở phương Bắc hay phương Nam, ở phương Đông hay phương Tây, dù da trằng hay da đen, dù da vàng hay da đỏ nhưng nếu đã là “những kẻ ở trong Đấng Chris” thì họ đều tìm thấy tiếng nói chung về đạo đức và nhân bản. Trên cơ sở đó người Tin Lành ở Việt Nam cũng không có ngoại lệ, họ luôn học và thực hành Nếp Sống Đạo như Chúa đã truyền cho họ. Vậy, nếp sống đạo của người Tin Lành ở Việt Nam là gì? Và họ thể hiện như thế nào?

b) Nếp Sống Đạo của tín hữu Tin Lành  Việt Nam.

Trong bài viết này chúng tôi không có tham vọng trình bày ý nghĩa thần học của nếp sống đạo, mà chỉ xin nêu một vài khía cạnh thực tiễn về nếp sống đạo của những tín hữu Tin Lành.

Như trên đã trình bày, về phương diện đạo đức, lối sống thì Thánh Kinh đã dạy dỗ rất chu đáo, trong đó gồm nhiều khía cạnh. Nhưng sau này Chúa Cứu Thế Giê-su đã gồm tóm thành “Đại Giới Răn”  như sau: “Hãy hết lòng, hết linh hồn, hết lý trí yêu kính Chúa là Đức Chúa Trời ngươi. Đó là Phu 6:5  điều răn thứ nhất và quan trọng nhất. Còn điều răn thứ hai cũng như thế: ‘Hãy yêu thương người khácNt: Người lân cận  như chính mình.’ Tất cả Kinh Luật và Kinh Tiên Tri đều dựa vào hai điều răn này”  (Ma-thi-ơ 22: 37-40; BDM). Nói một cách nôm na theo kiểu người Việt là: Kính Chúa, yêu người. Để cụ thể hóa Chúa Giê-su còn yêu cầu các tín đồ phải thực hành luật vàng đó là:  Bất cứ những gì con muốn người ta làm cho mình, hãy làm ngay điều ấy cho họ (Ma-thi-ơ 7: 12; BDM). Nhân nhắc đến luật vàng mà Chúa Giê-su yêu cầu các con cái của Ngài phải thực hành, chúng tôi xin đề cập đến một điều đã từng xảy ra.  Ấy là chuyện có một vài học giả ngoài Cơ Đốc khi thấy các Cơ Đốc nhân trưng dẫn luật vàng  mà Chúa Giê-su đã dạy họ thì các vị học giả này lý luận rằng: Tưởng có điều gì mới mẻ, chứ trước Chúa Giê-su hơn 500 năm thì “Vạn thế sư biểu” () của người Tàu là Khổng Khâu (孔丘) đã từng khuyên rằng: “kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (, ) [24]  nghĩa là: điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác; và người Tàu cũng như một số nước Á châu cũng coi đó là “quy tắc vàng” từ lâu rồi. Theo thiển ý của chúng tôi, khi một số học giả ngoài Cơ Đốc đặt quy tắc vàng của Khổng Khâu bên cạnh luật vàng của Chúa Cứu Thế Giê-su thì họ đã hàm ý gièm pha mà chưa thấu suốt cái cốt lõi của luật vàng. Bởi một điều hiển nhiên là luật vàng thì đến từ Đấng Chân Thần, còn quy tắc vàng thì đến từ người phàm, luật vàng thì đến từ Đấng Tạo Hóa còn qui tắc vàng thì đến từ tạo vật; cho nên luật vàng thì luôn mang tính tích cực, còn qui tắc vàng lại mang tính tiêu cực. Tại sao chúng tôi dám nói như vậy? Lý do luật vàng thì  yêu cầu và khuyên người ta luôn chủ động làm điều tốt cho người khác, còn qui tắc vàng chỉ khuyên người ta đừng làm việc xấu một cách thụ động. Trước cuộc sống đầy biến động và bất trắc, thói hư tật xấu và cái ác tràn lan thì phải chủ động làm nhiều việc thiện lành hơn để những điều bất thiện giảm đi, chứ không phải để mặc những điều bất thiện hoành hành rồi từ chối không làm những việc mà mình không muốn. Nếu thực sự là một người muốn chống lại cái ác, cái bất thiện để đem lại điều tốt cho tha nhân () thì phải dũng cảm đương đầu bằng cách càng ngày càng làm nhiều việc thiện lành hơn; còn nếu chỉ không làm những việc mình không muốn thì không hơn gì những kẻ cơ hội chỉ tìm cách trốn tránh thực tại. Thế thì, không tích cực làm điều thiện mà lại trốn tránh trước những điều xấu ác và tệ lậu sẽ không bao giờ làm cho con người trở nên quân tử  (君子)hết.

Về mặt “tổng quát” thì như vậy, còn trên thực tế thì người tín hữu Tin Lành ở VN đã “triển khai” những Lời dạy của Chúa Giê-su như thế nào?

Trước hết, việc Kính Chúa là nghĩa vụ của mọi Cơ Đốc nhân nói chung và là yêu cầu số một. Còn yêu người thì một khi đã trở nên tín đồ Tin Lành họ phải thực hành ở mọi “qui mô” khác nhau, từ trong gia đình là tế bào của xã hội đến làng xã, rộng ra là quốc gia và “xuyên quốc gia” nữa. Cụ thể: với cha mẹ họ phải thực hành đạo hiếu (). Theo người Tin lành, nếu là một người con hay cháu  có hiếu thì phải chăm sóc ông bà, cha mẹ hết sức chu đáo ngay khi ông bà cha mẹ đang còn tại thế, không được làm điều gì để ông bà, cha mẹ phải buồn lòng. Nghĩa là phải báo hiếungay khi ông bà, cha mẹ đang ở trong đời sống này, chứ không phải đợi đến khi ông bà, cha mẹ qua đời rồi mới báo hiếu qua việc lập ban thờ, sau đó cả năm mới nhớ đến một lần vào ngày giỗ. Nếu ông bà, cha mẹ đang còn sống mà không vâng lời, không chăm sóc; đến khi ông bà, cha mẹ qua đời rồi mới khóc lóc thảm thiết, làm ma to, bày cỗ lớn để bày tỏ lòng thương xót và tỏ ra cho người khác biết lòng “hiếu kính”  của mình thì phỏng có ích gì? Đối với anh chị em trong nhà thì phải nhường nhịn, biết hy sinh và quan tâm săn sóc anh em mình, nếu không làm được như vậy thì mọi lời hay, ý đẹp chỉ là sáo rỗng.

Ra đến ngoài xã hội thì phải khiêm nhu hạ mình, biết chịu đựng, phải có tấm lòng vị tha, biết tha thứ kể cả những người làm tổn thương mình. Sở dĩ các tín hữu Tin Lành thực hành những điều đó là để bày tỏ những Mỹ Đức của Chúa Cứu Thế Giê-su cho những người khác. Chỉ khi thể hiện nếp sống đạo, thực hành làm nhiều việc thiện lành thì họ mới thực sự muối của đất, là ánh sáng của thế gian.

Trên tinh thần ấy, những tín hữu Tin Lành ở Việt Nam nói chung luôn làm những việc có ích cho không chỉ cá nhân, hay gia đình mình mà còn cho cả cộng đồng nữa. Bây giờ chúng ta cùng xem xét một số những sự biến đổi cụ thể khi người ta tiếp nhận Phúc Âm của Đức Chúa Trời, trên cả phương diện cá nhân và cộng đồng.

Trước hết xét về mặt cá nhân:

– Ngày 19/09/2012 trên trang web: http://phapluatvn.vn đã đăng một bài có  đầu đề là: “Công tử Hà thành” thoát “bùa” tiên nâu tuyên chiến với ma túyviết về một trường hợp một thanh niên sinh năm 1976 tại Hà Nội, anh này là con một vị giáo sư tiến sĩ Triết học dạy ở một học viện rất đáng kính. Anh ta bị nghiện ngay từ hồi học cấp ba (trung học phổ thông). Để có tiền nghiện hút anh ta làm đủ mọi điều tệ hại niễm là có tiền. Từ việc lấy hết đồ đạc của nhà đem bán, đến việc lừa đảo, bảo kê, đi ăn cướp . . . không một việc xấu nào là anh ta không làm. Gia đình đã đưa anh ta đi cai nghiện hầu hết tại các trung tâm cai nghiện trên miền Bắc, nhưng không kết quả gì ngoài việc càng ngày càng nghiện nặng hơn. Đến năm 2003, anh ta tin Chúa và được đến cai nghiện tại một trung tâm do một con cái Chúa phụ trách ở huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình; và thật là lạ, chỉ với “phương pháp” liên tục cầu nguyện và học Kinh Thánh mà không cần bất kỳ một loaị thuốc nào trợ giúp, trong hai tuần anh ta hoàn toàn dứt khỏi sự trói buộc của ma túy đã hành hạ anh ta trong ngót một chục năm. Ngày hôm nay anh ta không chỉ trở thành một công dân tốt của xã hội mà anh ta còn trở thành một mục sư, đang phụ trách một trung tâm cai nghiện và giúp đỡ những người nghiện ma túy và bị nhiễm HIV. Trong gần 9 năm qua anh ta đã giúp 150 người cai nghiện thành công và tất cả số họ đều đã trở thành con cái của Chúa [25]. Vậy, trong trường hợp này điều gì đã làm biến đổi một kẻ nghiện hút bị gia đình, xã hội khinh bỉ, ruồng bỏ trở thành một công dân tốt và lại còn đi chăm sóc cho những người cũng bị ném ra ngoài lề xã hội như vậy, nếu như không đến từ Phúc Âm của Đức Chúa Trời?

– Một trường hợp khác (một doanh nhân xin không nêu tên) ở tại Hà Nội. Khi chưa tin Chúa thì anh ta sùng bái các sinh hoạt tâm linh đến mức mê tín, không có chùa nào, phủ nào “thiêng” trên đất nước này mà anh ta không đến để lễ bái và “xin lộc”.  Vào dịp năm mới nào anh ta cũng đến “vay tiền”  ở đền thờ Bà Chúa Kho bên Bắc Ninh, rồi cứ đến cuối năm thì lại mang đến “trả cả gốc lẫn lãi”; mỗi lần giỗ ông, giỗ bà thì đều đốt “quần áo”, “tiền bạc” (tất nhiên là đồ vàng mã) để “gửi” cho ông bà ở “cõi bên kia”  tốn kém hàng chục triệu đồng mỗi một tiết giỗ; lý do để anh ta giải thích cho sự tốn kém ấy là: “trần sao, âm vậy, các cụ nhà tôi về báo mộng rằng: ở dưới đó bây giờ cũng tệ nạn lắm, nếu không sẵn tiền vàng thì sẽ bị quỷ sứ hành hạ khó mà chịu nổi. Ai không chịu nổi khai ra người nhà là gặp tai họa”. Tuy nhiên, từ khi tin Chúa anh ta cho biết: “Từ khi tôi tin Chúa đến nay đã hơn hai năm, chẳng có cụ nào về bảo gì tôi hết”. Cũng từ đó anh ta hoàn toàn xa lánh những sinh hoạt tâm linh mà nhiều khi trở nên cuồng tín như trước đây. Hiện nay anh ta thường xuyên đi giúp đỡ những người nghèo; nhưng điều đặc biệt là trong khi đi làm từ thiện anh ta không hề quảng bá tên tuổi mình hay tên của công ty mình, vì anh ta thực hiện Lời Chúa Giê-su dạy:  Khi con làm việc từ thiện, đừng cho tay trái biết tay phải làm gì, để việc từ thiện của con được giữ kín; và Cha con là Đấng thấy trong nơi kín đáo ấy, sẽ thưởng cho con.” (Ma-thi-ơ 6: 3-4; BDM). Trong bối cảnh ngày nay, ngay đến việc xây nhà cho các bà mẹ VN anh hùng thì những doanh nghiệp, những tổ chức hoặc cá nhân cũng đều yêu cầu gắn tên của doanh nghiệp họ, hay tổ chức của họ. Nghĩa là ngay cả trong việc “đền ơn, đáp nghĩa”  thì người không có Chúa chưa bao giờ quên phần “lợi”“danh” của họ. Thế thì, điều gì đã khiến doanh nhân Cơ Đốc kia làm việc thiện một cách tự nguyện mà không cần cả “danh”  lẫn “lợi”  như vậy; nếu như không nói rằng  anh ta đã hoàn toàn  biến đổi nhờ Phúc Âm?

Trên đây là một vài trường hợp thay đổi nếp sống của cá nhân sau khi họ tiếp nhận Phúc Âm của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, mỗi cá nhân khi tin Chúa dù có những sự thay đổi kỳ diệu lớn lao đi đến đâu chăng nữa thì cũng không thể sánh với quyền năng của Phúc Âm biến đổi hẳn nếp sống của cả một cộng đồng. Bây giờ chúng ta cùng xem xét về khía cạnh này.

Xét về mặt cộng đồng:  Nếu nói đến ảnh hưởng của Phúc Âm lên văn hóa tại Việt Nam mà không đề cập đến sự thay đổi nếp sống của các đồng bào dân tộc ít người là một thiếu sót lớn. Lý do là: chỉ cần nhìn thành phần dân tộc trong Tổng hội HTTLVN (MB) sẽ thấy ngay. Cụ thể: tính đến tháng 8/2012 thì toàn Tổng hội có 911 chi hội với 141 ngàn tín hữu; trong đó chi hội của người Việt (hay người Kinh) chỉ có 39 chi hội với khoảng gần 20 ngàn tín hữu còn lại tới hơn 120 ngàn là tín hữu thuộc các dân tộc ít người, trong đó tín hữu là người Hmông ngót 100 ngàn (theo B/C nội bộ của Tổng hội HTTLVN MB). Vậy, tín ngưỡng của người Hmông như thế nào? Sau khi tin Chúa họ được biến đổi ra sao?

Về mặt tín ngưỡng: Hầu hết người Hmông đều tin có sự tồn tại của linh hồn, và cơ thể mỗi người đều phụ thuộc vào linh hồn [26]. Họ tin sự tồn tại của các loại ma và cho rằng các ma này có sức mạnh siêu nhiên, chi phối mọi mặt đời sống của con người [27]. Vì thế trong đời sống tâm linh thì “hệ thống ma” của họ cực kỳ “phong phú” cụ thể: 1) ma tổ tiên (ma sinh ra từ người chết); 2) ma cửa chính; 3) ma nhà; 4) ma bếp; 5) ma buồng; 6) ma thầy thuốc; 7) ma thầy cúng; 8) ma rừng [28]. Đồng thời họ tin rằng, đời sống của họ sướng hay khổ, khỏe mạnh hay yếu đau . . . đều phụ thuộc vào cách ứng xử của họ với các loại ma kể trên. Từ chỗ đời sống cả vật chất lẫn tinh thần  phụ thuộc vào nhiều loại ma như vậy, dẫn đến việc cúng bái và các hủ tục khác diễn ra thường xuyên; bên cạnh đó việc chi phí cho các lần cúng ma này rất tốn kém, những chi phí này đã trở thành gánh nặng về kinh tế cho nhiều gia đình khi họ phải sống ở vùng sâu, vùng xa vốn dĩ đã phải chịu khó khăn thiếu thốn mọi bề. Xin đơn cử: Một người con trai đã lấy vợ, nếu có bố mẹ qua đời thì phải chi phí cho việc ma chay là: 1) 1 con bò (hay trâu) sừng dài khoảng hai gang tay (thời gian khoảng 3-4 năm đủ để  con bò hoặc trâu có thể cày, kéo được); 2) 20 kg thịt lợn; 3) rượu 20 lít; 4) gạo 20 kg . . . chưa tính các khoản chi khác [29].

Về mặt tệ nạn: theo khảo sát thực tế của Tổng hội HTTLVN (MB) trước khi tin Chúa thì đại đa số các thanh niên người Hmông nghiện rượu, nhiều người nghiện thuốc phiện và ma túy, đã có nhiều bản của người Hmông trồng cây thuốc phiện (còn gọi là cây anh túc) với mục đích là để “tự sản, tự tiêu”.

Nên có thể nói người Hmông khi chưa tin Chúa, thì họ không chỉ bị trói buộc trong vòng kiềm tỏa của tín ngưỡng mà còn bị các tệ nạn xã hội khống chế. Tuy nhiên, sau khi tin Chúa thì mọi sự đã được thay đổi. Với những gia đình tin Chúa họ đã loại bỏ tất cả các loại ma kể trên, nếu bị ốm đau họ đi khám bác sĩ thay vì đi đến thầy cúng; các chị em được tôn trọng, được đi sinh hoạt vui vẻ, được thể hiện mình, được ăn mặc đẹp trong những buổi sinh hoạt thờ phượng thay vì làm “Ô-sin không công” cho các “đức lang quân”  như trước đây. Những gia đình theo Tin Lành đều cho con cái đi học hành; từ bỏ việc trồng và hút thuốc phiện; thanh niên không còn nghiện rượu, yêu thương vợ hơn thay vì đánh vợ như trước kia. Chính bởi sự thay đổi lớn lao theo xu hướng tiến bộ này mà khi bản nào có một người tin Chúa thì gần như cả bản đều tin Chúa.

Điều này không chỉ là nhận định chủ quan của giới Tin lành mà còn là nhận định của các học giả bên ngoài Tin Lành. Xin trích nguyên văn một nhận định sau: “Tin Lành đề cao sự tiến bộ vì vậy giúp người Hmông dễ bỏ được những cái lạc hậu và tiếp thu những cái tiến bộ. Trên thực tế, Việc người Hmông bỏ tín ngưỡng truyền thống để thay đổi theo Tin Lành cũng có tác động tích cực nhất định tới tình hình phát triển kinh tế-xã hội của người Hmông. Bằng cứ là việc các tín đồ Tin Lành người Hmông bỏ những tập tục lạc hậu, động viên con cái đi học và lên tới các cấp cao hơn, sử dụng thuốc nam và y học hiện đại để chữa bệnh, thực hiện tốt chương trình kế hoạch hóa gia đình, bỏ các tệ nạn xã hội như: đánh chửi nhau, nghiện hút, nghiện rượu, trộm cắp v v . . .[30]

Tất nhiên còn rất nhiều sự biến đổi kỳ diệu khác mà những người không thuộc Tin Lành cho là chuyện cổ tích. Tuy nhiên, qua sự biến đổi của những cá nhân và của cả một cộng đồng như đã trình bày; nhất là nhận định của một số các học giả ngoài Tin Lành như đã dẫn. Chúng tôi thiết nghĩ không cần giải thích gì thêm cũng đủ để nói đến ảnh hưởng lớn lao của Phúc Âm lên đời sống văn hóa  của những người bình thường khi họ trở thành tín đồ của đạo Tin Lành.

 

 

IV – KẾT LUẬN

          Qua trình bày trên có thể thấy Phúc Âm của Đức Chúa Trời là mang tính phổ quát, không phải chỉ dành riêng cho một sắc dân nào. Phúc Âm mang tính xuyên văn hóa không phải chỉ bởi chỉ bởi thẩm quyền của Đấng Tạo Hóa, nhưng trên hết là tình yêu thương vô hạn của Ngài với nhân loại. Bởi đó, những tín đồ của Phúc Âm luôn phải có trách nhiệm làm vinh hiển Đấng Cứu Chuộc mình, phải bày tỏ những Mỹ Đức của Ngài thông qua đời sống thực sự được biến đổi của họ để bất cứ ai nhìn vào đời sống của họ thì biết rằng họ là con cái của Đấng Christ. Cũng từ đó tạo nên sự cuốn hút với những người khác. Đó thực sự là sự biến đổi kỳ diệu của Phúc Âm với mọi “sắc màu” văn hóa trên trái đất này. Đối với Cơ Đốc nhân tại Việt Nam, chúng tôi thiết nghĩ  nhà nước mong muốn các tín hữu Tin Lành: Sống Phúc Âm Trong Lòng Dân Tộc cũng là phù hợp với lối sống mà Đấng Christ đã kêu gọi và biến đổi chúng tôi.

Do trình độ còn nông cạn, nên bài viết này không thể tránh khỏi nhiều điều thiếu sót, rất mong các anh chị em trong Chúa và quí vị chỉ bảo cho để chúng tôi được sáng tỏ. Nguyện xin Đức Chúa Trời Ba Ngôi xuống đủ các phúc lành từ Thiện Thượng cho các quí vị cùng các anh chị em!

 

Hà Nội, ngày 20/11/2012

                                                       

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: Rev. Nguyễn Hữu Mạc – Hội Trưởng Tổng Hội Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc)

 (Nguồn: www.vibiwebsite.com)

CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1. Kinh Thánh:

– Tiếng Việt: Bản dịch năm 1926 (BDC); Bản dịch năm 2002 (BDM); Bản Phổ Thông; Bản TTHĐ; Bản Công giáo năm 2011.

– Tiếng Anh: Bản KJV; Bản NIV.

2. Thánh Kinh Tân Từ Điển. Viện Thần Học Tin Lành Việt Nam. NXB Phương Đông. Năm 2009.

3. Từ Điển Tiếng Việt. Viện Ngôn Ngữ Học. NXB Đà Nẵng. 2004.

4. Từ Điển Trung Việt. Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam. NXB Khoa Học Xã Hội. 1997.

5. Từ Điển Thành Ngữ, Tục Ngữ Việt Nam. Nguyễn Bích Hằng. NXB Từ Điển Bách Khoa. 2007. 

6. Thần Học Căn Bản. Charles C. Ryrie. Bản tiếng Việt. 2004.

7. Thần Học Cơ Đốc Giáo. Millard J. Erickson. NXB Văn Hóa Thông Tin. 2007.

8. Đại Cương Lịch Sử Việt Nam, tập I, II, III. Nhiều tác giả. NXB Giáo dục. 2010.

9. Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam. Trần Ngọc Thêm. NXB Giáo dục. 2000.

10. Việt Nam Văn Hóa Sử Cương. Đào Duy Anh. NXB Văn Hóa Thông Tin. 2003.

11. Văn Hóa Tâm Linh. Nguyễn Đăng Duy. NXB Văn Hóa Thông Tin. 2009.

12. Văn Hóa Gia Đình Việt Nam và Sự Phát Triển. Lê Minh.  NXB Lao Động. 1994.

13. Tứ Thư. Bản Dịch của Đoàn Trung Còn. NXB Thuận Hóa. 2011.

14. Đạo Dức Học Cơ Đốc. Lưu Hồng Khanh. Thần Học Viện Tin Lành Việt Nam (Frankfurt). 2003.

15.Tạp Chí Xưa Nay. Cơ Quan Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam.  Số 370.

16. Giữ “Lý Cũ” Hay Theo “Lý Mới”? Nguyễn Văn Thắng. NXB Khoa Học Xã Hội. 2009.

17. Các trang web:

– Wikipedia.

http://www.catholic.org

– http://www.simonhoadalat.com 

– http://phapluatvn.vn

 

 

 

 

 

[1] Lê Minh: Văn Hóa Gia Đình Việt Nam và Sự Phát Triển. NXB Lao Động. 1994. 36.

[2] Lê Minh: Sách đã dẫn.

[3] Nguyễn Đăng Duy. Văn Hóa Tâm Linh. NXB Văn Hóa Thông Tin. 2009. Trg 11.

[4] Giuse Phan Tấn Thành. Phúc Âm Hóa – Tân Phúc Âm Hóa. http://www.simonhoadalat.com  

[5] Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam. Từ Điển Trung Việt. NXB Khoa Học Xã Hội. 1997. Trg 336.

[6]Theo Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia.

[7] Nguyễn Đăng Duy. Văn Hóa Tâm Linh. NXB Văn Hóa Thông Tin. 2009. Trg 23.

[8] Viện Ngôn Ngữ Học. Từ Điển Tiếng Việt. NXB Đà Nẵng. 2004. Trg 1100.

[9] Đào Duy Anh. Việt Nam Văn Hóa Sử Cương. NXB Văn Hóa Thông Tin. 2003. Trg 11.

[10] Trương Hữu Quýnh. Đại Cương Lịch Sử Việt Nam, Tập I. NXB Giáo Dục. 2010. Trg 360.

[11] Trần Ngọc Thêm. Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam. NXB Giáo Dục. 2000. Trg 22.

[12] Trần Ngọc Thêm. Sđd. Trg. 22

[13] Trần Ngọc Thêm. Sđd. Trg 22.

[14] Nguyễn Bích Hằng. Từ Điển Thành Ngữ, Tục Ngữ Việt Nam. NXB Từ Điển Bách Khoa. 2007. Trg 130.

[15] Nguyễn Bích Hằng. Sđd. Trg 66.

[16] Trần Ngọc Thêm. Sđd. Trg 23.

[17] Trần Ngọc Thêm. Sđd. Trg 24.

[18] Trần Ngọc Thêm. Sđd. Trg 137.

[19] Tóm Lược Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Theo: http://www.catholic.org

[20] Trần Ngọc Thêm. Sđd. Trg 25.

[21] Nguyễn Bích Hằng. Từ Điển Thành Ngữ, Tục Ngữ Việt Nam. NXB Từ Điển Bách Khoa. 2007. Trg 122.

[22] Đinh Văn Hạnh. Không Gian Tôn Giáo Và Không Gian Văn Hóa Cồng  Chiêng  Tây Nguyên. Tạp Chí Xưa Nay, Số 370. Trg 24.

[23] Lưu Hồng Khanh. Đạo Dức Học Cơ Đốc. Thần Học Viện Tin Lành Việt Nam (Frankfurt). 2003. Trg  14.

[24] Đoàn Trung Còn. Tứ Thư, sách Luận Ngữ, Nhan Uyên Đệ Thập Nhị, Tiết 2. NXB Thuận Hóa. Trg 180.

[25] Tự Lập. “Công tử Hà thành” thoát “bùa” tiên nâu tuyên chiến với ma túy. Theo: http://phapluatvn.vn

[26] Nguyễn Văn Thắng. Giữ “Lý Cũ” Hay Theo “Lý Mới”? NXB Khoa Học Xã Hội. 2009.Trg. 61.

[27] Nguyễn Văn Thằng. Sđd. Trg 62.

[28] Nguyễn Văn Thắng. Sđd. Trg. 63.

[29] Nguyễn Văn Thắng. Sđd. Trg. 113.

[30] Nguyễn Văn Thắng. Sđd. Trg  166.

 

(V.I.B.I)




Comments

comments

About The Author

Number of Entries : 217

Liên Phái Thánh Kinh Thần Học Viện Việt Nam Website đang xây dựng

Scroll to top