Vài cảm nhận đầu tiên khi đọc bản Kinh Thánh Truyền Thống Hiệu Đính – Phiên bản 30.7.2014 Reviewed by Momizat on .   VÀI CẢM NHẬN ĐẦU TIÊN KHI ĐỌC BẢN KINH THÁNH TRUYỀN THỐNG HIỆU ĐÍNH - VER 2 Đây là bài viết của đồng 2 vị Giáo Sư V.I.B.I được viết vào ngày 7/5/2011. Qu   VÀI CẢM NHẬN ĐẦU TIÊN KHI ĐỌC BẢN KINH THÁNH TRUYỀN THỐNG HIỆU ĐÍNH - VER 2 Đây là bài viết của đồng 2 vị Giáo Sư V.I.B.I được viết vào ngày 7/5/2011. Qu Rating:
You Are Here: Home » Mục Vụ » Bài viết phân tích » Vài cảm nhận đầu tiên khi đọc bản Kinh Thánh Truyền Thống Hiệu Đính – Phiên bản 30.7.2014

Vài cảm nhận đầu tiên khi đọc bản Kinh Thánh Truyền Thống Hiệu Đính – Phiên bản 30.7.2014




kinhthanh-hieudinh

 

VÀI CẢM NHẬN ĐẦU TIÊN KHI ĐỌC BẢN KINH THÁNH TRUYỀN THỐNG HIỆU ĐÍNH – VER 2

Đây là bài viết của đồng 2 vị Giáo Sư V.I.B.I được viết vào ngày 7/5/2011. Quý độc giả có thể xem bản cũ ở đây: Click để xem 

Nhân dịp dự Hội Thảo của Thánh Kinh Hội tại Hà Nội, hai vị đã tiếp tục viết lại và có chỉnh sửa đôi chút. Xin giới thiệu đến quý độc giả.

______________

Vào năm 2010 khi các tín hữu Tin Lành Việt Nam (THTLVN) đang rất phấn khởi đón mừng: Đại lễ 100 năm Tin Lành đến Việt Nam  (diễn ra vào tháng 6/2011) thì Liên Hiệp Thánh Kinh Hội (LHTKH – UBS) đã làm được một việc rất ý nghĩa để chào mừng Đại Lễ này bằng việc hoàn thành và phổ biến bản Kinh Thánh Truyền Thống Hiệu Đính (TTHĐ)Các quí con cái Chúa trên khắp đất nước này đều tạ ơn Đức Chúa Trời, bởi Ngài đã sai LHTKH mang Lời Hằng Sống đến cho dân tộc Việt Nam từ hơn 100 năm nay.  Tin Lành của Đức Chúa Trời được lan rộng trên khắp đất nước Việt Nam như ngày hôm nay không thể không nhắc đến công khó của LHTKH.

Nếu tính từ khi bản dịch được LHTKH xuất bản lần đầu tiên năm 1926 [1] đến nay đã ngót 90 năm. Trong khoảng thời gian ấy LHTKH đã xuất bản và phân phối được một số lượng lớn Kinh Thánh đến tay các tín hữu Tin Lành. Theo con số do chính LHTKH thống kê được, đến nay đã có khoảng 700 000 ấn bản trọn bộ và 2 200 000 ấn bản Tân Ước bằng tiếng Việt đã đến tay người đọc[2]. Tất cả những ấn bản đó đều dùng bản dịch được xuất bản từ năm 1926  (gọi vắn tắt là Bản dịch năm 1926). Chúng ta phải thừa nhận rằng bản dịch được xuất bản năm 1926 là một bản dịch hay, văn chương trau chuốt, trong sáng, với sự cộng tác rất đắc lực của học giả, nhà văn Phan Khôi; mà sau này khi nhắc đến sự đóng góp của ông đã có người viết rằng: Ngày nay và cả sau này nữa, khi đề cập đến  những bản Kinh Thánh Việt ngữ, thì người ta, nhất là những tín hữu Tin Lành Việt Nam, không thể nào không nhắc đến tên tuổi của Phan Khôi, đóng góp của Phan Khôi, nhắc đến với lòng biết ơn và trân trọng vậy [3]. Với quãng cách gần 90 năm thì đây chưa phải là một thời gian dài so với lịch sử của một dân tộc, hoặc trong lịch sử phát triển của loài người. Tuy nhiên đó là một khoảng thời gian đủ dài để ngôn ngữ của một dân tộc có những thay đổi.  Ngày nay thật khó để chúng ta có thể  hiểu được những từ ngữ được dùng thông dụng vào những thập kỷ thứ 10 hay 20 của thế kỷ thứ XX. Chúng ta hoàn toàn lúng túng khi gặp những cụm từ hoặc những từ kiểu như: nhuần gội  (Châm ngôn 11: 25); hay ghe phen (Lu-ca 13: 34; Rô-ma 1: 13); hay đòi phen (II Cô-rinh-tô 11: 23); hoặc chỉn (Thi thiên 91: 8; Giê-rê-mi3: 13; Rô-ma14: 14) . . .

Một điều nữa chúng ta phải thừa nhận rằng: Kinh Thánh mang tính xuyên mọi nền văn hóa, nhưng ngôn ngữ của con người của bất kỳ dân tộc nào cũng đều có sự thay đổi theo thời gian. Vì thế việc phải hiệu đính bản dịch từ năm 1926 để thích ứng với ngôn ngữ hiện đại là tất yếu. Nhưng hiệu đính ở  đây không có nghĩa là dịch lại mà là xem xét, đối chiếu và sửa lại văn bản cho đúng[4], hoàn chỉnh hơn, phù hợp hơn với ngôn ngữ đương thời. Chính điều này lại nảy sinh một nhu cầu thiết yếu với các nhà hiệu đính là phải đặc biệt quan tâm đến sự vay mượn, pha trộn cũng như sự tinh tế, sắc xảo và phong phú về cách sử dụng ngôn ngữ của người Việt.

Xét về các tiêu chí, các công đoạn đặt ra trong quá trình hiệu đính, qua các cuộc hội thảo đã cho thấy, LHTKH đã rất kỳ công để làm công việc cao trọng này. Bên cạnh đó ngay phần  Lời Nói Đầu của Bản Hiệu Đính cũng cho biết: Bản Tân Ước hiệu đính hoàn thành vào năm 2004, bản Cựu Ước hiệu đính hoàn thành vào năm 2007. Đồng thời LHTKH cũng đã tổ chức ba lần hội thảo về công tác hiệu đính vào năm 2005, 2007 và 2009 ở tại TP HCM. Chính bởi sự chu đáo này của LHTKH mà bản Truyền Thống Hiệu Đính (TTHĐ) được toàn thể các con cái Chúa người Việt chờ đợi và ngưỡng mộ.

Tuy chưa thể đọc và nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, nhưng những cảm nhận ban đầu của chúng tôi là: bản TTHĐ đã làm được rất nhiều điều vượt trội so với bản dịch năm 1926; xin đơn cử: sử dụng nhiều từ ngữ chính xác hơn, loại bỏ được những từ cổ không còn phù hợp, lược bớt những từ địa phương (phương ngữ), mạnh dạn sử dụng ngôn ngữ phổ thông làm cho nhiều người, ở nhiều trình độ khác nhau nhưng đều dễ đọc, dễ hiểu, dễ tiếp thu và ít phải tra cứu . . .

Nhưng có điều mà chúng ta phải chấp nhận là: Không có bất kỳ một bản dịch Kinh Thánh nào là hoàn hảo cả, mà chúng ta chỉ hy vọng càng ngày các bản dịch càng đi sát với chân lý hơn mà thôi. Chúng tôi cho rằng ngay cả trong bản TTHĐ lần này cũng không thể tránh khỏi điều đó. Nhiều khi có thể vì quá chú trọng vào tính chính xác của câu chữ mà các nhà hiệu đính lại bỏ qua tính đặc thù về văn hóa, sự tinh tế cũng như sự đa dạng trong lối sử dụng ngôn ngữ của người Việt. Điều này làm giảm đi phần nào sự hấp dẫn, sự trau chuốt của bản TTHĐ, mặc dù bản TTHĐ có nhiều điều vượt trội như chúng tôi đã trình bày ở trên.

Bước đầu chúng tôi xin mạo muội đưa ra một số điểm còn tồn nghi nhỏ, để hy vọng rằng Ban Hiệu Đính  xem xét, nếu đúng thì nên hiệu đính hoặc bổ sung, còn nếu chưa đúng thì chúng tôi xin được chỉ giáo. Cụ thể như sau:

1) Có những địa điểm mang nhiều địa danh khác nhau nhưng không được chú thích gây nên thắc mắc cho độc giả: Ví dụ: Dân số 12: 1 trong bản dịch năm 1926 có chép: Mi-ri-am và A-rôn nói hành Môi-se về việc người nữ Ê-ti-ô-pi mà người đã lấy . . . Tuy nhiên cũng câu này trong bản dịch năm 2002 (bản này dựa hoàn toàn vào bản gốc tiếng Hê-bơ-rơ và tiếng Hy-lạp và không phải do LHTKH dịch) thì  chép rằng: Môi-se cưới người nữ xứ Cút. Khi tra cứu bản tiếng Anh NIV cũng thấy chép rằng Môi-se cưới vợ người xứ Cút. Còn trong bản KJV lại ghi là Môi-se lấy vợ người xứ Ê-ti-ô-pi. Riêng bản TTHĐ mới đây vẫn ghi là Môi-se cưới vợ người xứ Ê-ti-ô-pi mà không có chú giải gì. Vậy, bản nào đúng, bản nào sai thì bản TTHĐ cần phải làm rõ và sửa lại, bên cạnh đó phải có chú thích mới không gây thắc mắc cho độc giả. Có như vậy mới có thể đảm bảo tính thống nhất và tính không sai lạc của Kinh Thánh.

2) Thay đổi tên người nhưng không chú thích. Ví dụ: Trong Sáng thế 10: 6 thì cả hai bản tiếng Anh là KJV và NIV đều ghi con trai của Cham có một người tên là Mizraim (được dịch ra tiếng Việt là Mích-ra-im) , và cả bản dịch năm 1926 lẫn bản dịch năm 2002 đều thống nhất ghi là: Con trai của Cham là Cúc, Mích-ra-im, Phút và Ca-na-an. Thế nhưng trong bản TTHĐ lại ghi là: Con trai của Cham là Cút, Ai-cập, Phút và Ca-na-an mà không hề chú thích. Điều đáng nói ở đây là đến I Sử Ký 1: 8 thì chính bản TTHĐ lại viết là: Các con của Cham là Cút, Mích-ra-im, Phút và Ca-na-an giống như bản dịch năm 1926 và bản dịch năm 2002. Như vậy, ở đây nảy ra hai vấn đề:

Một là, con trai thứ hai của Cham rốt cuộc tên là gì, Mích-ra-im hay Ai-cập, hay Mích-ra-im là một cách nói khác của Ai-cập? Rồi cái ông có tên là Ai-cập kia có phải là tổ tiên của xứ Ai-cập mà bản dịch năm 1926 gọi là xứ Ê-díp-tô không? Nói một cách nghiêm túc, chính Ban hiệu đính phải chú thích rõ điều này để các độc giả khỏi băn khoăn; bởi không phải bất cứ THTL VN nào cũng đủ thời gian và kiến thức để tra cứu, để rồi chỉ đến khi đọc Genesic 10: 6 trong bản NIV (tiếng Anh) mới tìm thấy chú thích chua rằng: That is Egyp [5]. Tuy nhiên, rất tiếc là bản TTHĐ lại không chú thích điều này, trong khi đúng ra bản TTHĐ phải làm điều đó.

Hai là: trong cùng một bản TTHĐ, nói về cùng một người nhưng ở sách Sáng thế ký thì ghi một tên, ở sách Sử ký thứ nhất lại ghi một tên khác, rõ ràng chúng ta thấy ở đây có sự “tiền hậu bất nhất”, dù muốn biện minh thế nào đi chăng nữa, thì điều này nó cũng ảnh hưởng đến tính không sai lạc của Kinh Thánh, mà lẽ ra điều này không đáng để xảy ra với một bản được gọi là Hiệu Đính.

3) Có những câu sau khi hiệu đính thì lại làm cho ý nghĩa khác hẳn so với bản dịch năm 1926, trong khi chính câu đó trong bản dịch năm 1926 là hợp lý hơn và tinh tế hơn và cần được giữ lại. Ví dụ: Sáng thế 1: 26-27 trong bản dịch năm 1926 ghi như sau: 26 Đức Chúa Trời phán rằng: Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta, đặng quản trị loài cá biển, loài chim trời, loài súc vật, loài côn trùng bò trên mặt đất, và khắp cả đất. 27 Đức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài; Ngài dựng nên loài người giống như hình Đức Chúa Trời . . . Trong khi bản dịch năm 2002 thì ghi là: 26 Đức Chúa Trời phán: “Chúng ta hãy tạo nên loài người như hình thể Ta và giống như Ta, để quản trị các loài cá biển, chim trời, súc vật trên cả trái đất và các loài vật bò trên đất.” 27 Đức Chúa Trời tạo loài người theo hình ảnh Ngài. Ngài sáng tạo loài người như hình ảnh Đức Chúa Trời. . . Còn bản hiệu đính thì dịch là: Đức Chúa Trời phán: “Chúng ta hãy tạo nên loài người theo hình ảnh Chúng Ta và giống như Chúng Ta . . . Đức Chúa Trời sáng tạo loài người theo hình ảnh Ngài; Ngài sáng tạo loài người theo hình ảnh Đức Chúa Trời . . . 

Vấn đề đáng nói ở đây là chữ Hình và chữ Tượng trong bản dịch năm 1926 so sánh với chữ Hình thể trong bản dịch năm 2002 và chữ Hình ảnh trong BTTHĐ. Trước hết chúng ta xét đến chữ Hình thể trong bản dịch năm 2002; rõ ràng cách dùng này là không được hợp lý và tinh tế lắm. Bởi Hình thể là bao gồm toàn thể những đường nét bên ngoài của một vật thể hay của một người cụ thể nào đó [6]. Còn từ Hình ảnh là hình người hay vật, hay cảnh tượng thu được bằng khí cụ quang học, hoặc để lại ấn tượng nhất định và tái hiện được trong trí [7], mặc dù trong ngôn ngữ của người Việt cũng có lúc từ hình ảnh được sử dụng để hàm ý nói một cách bóng bẩy trong những ngữ cảnh cụ thể. Như vậy, cách dùng này trong bản dịch hiệu đính cũng lại thiếu chính xác và đi đúng vào vết xe đổ của bản dịch năm 2002 mà các con cái Chúa là người Việt đã dịch. Lý do là theo khái niệm về Hình ảnh và Hình thể thì rõ ràng yêu cầu đầu tiên là phải có vật hay người, hay cảnh thật bằng vật chất, và phải chiêm ngưỡng được bằng con mắt vật lý của con người. Nếu không có vật thật, người thật, cảnh thật thì không thể có Hình ảnh hay Hình thể được. Trong khi Đức Chúa Trời là Thần, Ngài hoàn toàn vô ảnh vô hình. Không một ai có thể chiêm ngưỡng dung nhan Ngài. Ngay đến cả người do chính Ngài lựa chọn thì Ngài cũng phán rằng:  “không ai thấy mặt ta mà còn sống” (Xuất 33: 20). Do đó nếu dịch câu này là: Đức Chúa Trời tạo nên loài người như Hình thể hay Hình ảnh Ngài  là một điều thiếu chính xác và uyển chuyển trong cách sử dụng tiếng Việt.

 Nhưng nếu dùng chữ Hình và Tượng như ở trong bản dịch năm 1926 thì tình hình lại đi theo chiều hướng khác. Chúng ta phải thừa nhận rằng các dịch giả cùng thời với cụ Phan Khôi đã được Chúa xức dầu cách đặc biệt. Tuy chúng ta ngày nay không ai được chứng kiến công việc của các dịch giả thời đó; nhưng rất có thể các dịch giả thời đó đã tham khảo bản Kinh Thánh tiếng Trung Hoa, đồng thời họ hiểu biết về cách sử dụng ngôn ngữ Hán Việt cách sâu sắc nên mới có cách dùng từ Hán Việt tinh tế và uyển chuyển như đã thấy. Tại sao chúng tôi có thể nói được như vậy? Bởi trong tiếng Hán từ Hình nghĩa là hình dạng, hình tượng, hình bóng . . . nhưng cũng còn chữ Hình nữa ngoài nghĩa là hình dạng thì còn có nghĩa là một cái khuôn bằng đất[8], còn chữ Tượng ngoài nghĩa là dạng hình, phỏng theo, biểu tượng, dáng vẻ . . . nó còn nói đến trạng thái về tinh thần[9] hay chính là nói đến phần thuộc linh của con người, mà phần này thì không thể có cách nói nào khác là hoàn toàn đến bởi Đấng Tạo Hóa. Như vậy nếu dịch như bản dịch năm 1926 là: Đức Chúa Trời phán rằng: Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta  thì không chỉ trau chuốt về mặt chữ nghĩa mà còn rất tinh tế và phù hợp với một số điều đã chép trong Kinh Thánh vì rõ ràng Kinh Thánh có chép: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh” (Sáng thế 2: 7, BDC). Điều này cũng có nghĩa là chính Đức Chúa Trời đã lấy bụi đất để nắn lên một cái khuôn bằng đất sau đó Ngài ban cho cái khuôn bằng đất ấy phần thần linh của Ngài để rồi cái khuôn ấy trở nên một sinh linh sống động như Sáng thế 2: 7 đã xác nhậnNhư vậy theo cách dịch của bản năm 1926 thì Sáng thế 1: 26-27 là hoàn toàn phù hợp khi đối chiếu với Sáng thế 2: 7; và khi đó đọc Sáng thế 1: 26-27 theo bản dịch năm 1926 thì người ta có thể nhìn thấy phần của Đức Chúa Trời trong mỗi con người, phần này nó hàm chứa ở trong chữ Tượng. Thật là tuyệt vời và mầu nhiệm khi Kinh Thánh đã xác chứng rằng: “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha”  (Giăng 1: 14, BDC); nghĩa là sau này Ngôi Lời đã bày tỏ Đức Chúa Cha thông qua chính cái khuôn mà Ngài đã tạo dựng từ thuở sáng thế. Bởi thế, sau này trong triết học Phương Đông mới có câu: Hình tại hạ tức là thuộc đất, còn Tượng tại thượng tức là thuộc về trờiKhông phải ngẫu nhiên người ta lại gọi cơ quan theo dõi các hiện tượng tự nhiên xảy ra trong tầng bình lưu của khí quyển trái đất (tức là những hiện tượng xảy ra ở trên trời) là: Nha Khí Tượng.

Còn trong trường hợp nếu chúng ta cứ giữ từ Hình ảnh hay Hình thể thì đến khi giải kinh chúng ta sẽ gặp rất nhiều khó khăn, vì buộc phải giải nghĩa một cách rất gượng ép rằng: Chúng ta không được hiểu Hình ảnh theo nghĩa đen. Hình ảnh Đức Chúa Trời ở đây phải hiểu theo nghĩa thuộc linh nghĩa là chúng ta giống Đức Chúa Trời về mặt tâm linh, về tình yêu thương, về đạo đức, về sự khôn ngoan . . . Và rõ ràng cách giải thích như vậy hoàn toàn rất gượng ép, và thiếu thuyết phục. Bởi lẽ đã gọi là hình ảnh thì không thể có cách giải thích nào khác ngoài việc buộc phải công nhận rằng trước tiên phải có hình thật thì sau đó mới có thể có ảnh. Chúng ta có thể lý luận rằng: Trong nguyên bản tiếng Hê-bơ-rơ thì từ đó đúng là hình ảnh, và cứ cho rằng điều đó là đúng thì chúng ta cũng nên có những thay đổi để phù hợp với sự tinh tế và trau chuốt của ngôn ngữ bản địa. Tránh đi những từ mà khi đối chiếu với Từ Điển Tiếng Việt có thể gây ra sự thắc mắc hoặc hiểu lầm.

Do vậy theo thiển ý của chúng tôi riêng câu Sáng thế 1: 26 nên giữ nguyên như bản dịch năm 1926 thì sẽ hợp lý hơn và ý nghĩa hơn. Bởi điều có ý nghĩa nhất là ở chỗ khi đọc câu này người ta sẽ nhìn thấy phần “thiên thượng” trong bản thân mỗi con người là tạo vật của Đấng Tạo Hóa.

4) Có những từ trong bản dịch 1926 không chính xác cần được thay đổi thì bản TTHĐ lại vẫn giữ nguyên. Ví dụ: trong Khải huyền 1: 1 thì bản dịch năm 1926 chép: Sự mặc thị của Đức Chúa Jêsus-Christ . . . Bản dịch năm 2002 thì chép: Đây là mạc khải của Chúa Cứu Thế Giê-su . . . còn bản TTHĐ thì ghi là: Sự mặc khải của Đức Chúa Jêsus Christ . . . đối với bản tiếng Anh như  KJV và NIV thì đều ghi là: The revelation of Jesus Christ . . . vấn đề đặt ra ở đây là: vậy thì dùng chữ nào cho đúng, mạc haymặc? Về vấn đề này chúng tôi xin được trình bày như sau: Trước hết xét về chữ mặc, trong tiếng Hán thì có nhiều chữ mặc mang nhiều ý nghĩa khác nhau: mặc có thể là mực Tàu, mực viết, màu đen . . . lặng lẽ, không lên tiếng, trầm mặc, mặc xác hay mặc kệ[10] . . . Còn chữ mạc  thì trong tiếng Hán cũng có nhiều chữ mạc với nhiều ý khác nhau. Ví dụ: mạc có thể là: bãi hoang mạc, là lãnh đạm, là thờ ơ; nhưng mạc cũng còn là cái màn, màn sân khấu, cái trướng, màn kịch . . . Bây giờ chúng ta cùng xét xem chữ mạc  hay chữ mặc  ghép với chữ khải  sẽ hợp lý hơn? Trong tiếng Hán thì cũng có nhiều chữ khải  với nhiều ý nghĩa khác nhau; ví dụ: khải  có thể là phép tắc, gương mẫu, chữ khải hoặc cũng có thể là thắng lợi, khải hoàn cũng có thể là áo giáp sắt, cũng có thể là bóc ra, mở ra, vén màn lên[11]. . . Nếu theo sự tra cứu trên thì rõ ràng chữ khải  chỉ có thể ghép với chữ mạc  thành ra cụm từ  mạc khải mới chính xác, hợp lý và có ý nghĩa, nếu như đem đối chiếu với từ  revelation trong tiếng Anh (xin lưu ý rằng trường hợp chúng ta đang xét ở đây là từ Hán – Việt chứ không phải Hán hay Việt thuần túy). Nói đến sự mạc khải  là nói đến sự mở ra, bày tỏ ra, hay vén một tấm màn lên, như khi hai tấm màn nhung của sân khấu đang còn che kín sân khấu, thì không ai có thể nhìn thấy gì như con người hay cảnh trí trong sân khấu cả. Nhưng khi tấm màn được vén lên thì toàn bộ những cảnh trí của sân khấu mà trước đó còn là bí mật với khán giả được bày tỏ ra hết và ai cũng có thể chiêm ngưỡng được; và nếu có người nói rằng Đức Chúa Trời mạc khải cho loài người thì có nghĩa là Ngài tự bày tỏ (tiết lộ) chính Ngài cho loài người thì loài người mới có thể nhận biết về Ngài. Vậy phải dùng là mạc khải mới chính xác chứ không thể nói là mặc khải. Thật đang tiếc ngày nay rất nhiều tài liệu vẫn sử dụng mặc khải thay vì phải dùng mạc khải  mới chính xác. Thậm chí ngay cả ở những cuốn sách hết sức đáng trân trọng và có thể nói là không được phép sai vẫn dùng từ mặc khải một cách rất hồn nhiên như trong cuốn: Thánh Kinh Tân Tự Điển cũng dịch revelation  là Mặc khải, mặc thị hay sự tiết lộ [12]. Trong khi nếu xét về phương diện ngôn ngữ (Hán – Việt) thì không biết phải hiểu như thế nào cho đúng khi ghép chữ mặc với chữ khải  hoặc chữ mặc với chữ thị.

5) Có những từ hoặc cụm từ sau khi hiệu đính làm cho người đọc không hiểu gì so với các bản dịch khác; ví dụ: sách Ma-thi-ơ 16: 3 trong bản dịch năm 1926 thì ghi là: Các ngươi biết phân biệt rõ sắc trời, mà không phân biệt được dấu chỉ của thời giờ ư? Trong bản dịch năm 2002 thì ghi là: Các ông biết nhìn bầu trời để tiên đoán thời tiết, nhưng sao lại không biết phân biệt các dấu lạ của thời đạiNhưng trong bản TTHĐ thì ghi là: Các ngươi biết phân biệt rõ sắc trời, mà không biết phân biệt các thời triệu sao? Một điều có thể nhận thấy ngay là: Nếu như chúng ta đọc câu này ở trong bản dịch năm 1926, hoặc bản dịch năm 2002 thì người đọc có thể hiểu được. Nhưng khi đọc câu này trong bản TTHĐ thì quả thật người ta không hiểu thời triệu là gì. Chúng tôi có tra trong Từ Điển Tiếng Việt thì không thấy từ này, chúng tôi cho rằng hoặc có thể là phương ngữ, hoặc có thế là từ mới. Tuy nhiên, nếu là phương ngữ hay từ mới thì cũng nên chú thích rõ ràng để độc giả không bị bối rối.

6) Có một số trường hợp “Việt hóa” không cần thiết. Trong phần Lời Nói Đầu của bản TTHĐ có nói rằng thay chữ dân sự bằng dân Chúa tuy nhiên có một vài chỗ ở trong Kinh Thánh từ dân sự  hoặc dân Chúa lại được thay bằng từ Đồng bào. Ví dụ: Công vụ 7: 37; I Tê-sa-lô-ni-ca 2: 14 . . . Chúng ta đều biết từ Đồng bào này thì hầu như chỉ người Việt Nam mới sử dụng. Nó xuất xứ từ huyền thoại dân Việt ta là “con rồng, cháu tiên”. Tục truyền rằng: vào năm Nhâm Tuất (2879 T.C) Kinh Dương Vương lên làm vua, và lấy con gái Thần Long là vua hồ Động Đình, sinh được một con trai đặt tên là Sùng Lãm, nối ngôi làm vua xưng là Lạc Long Quân. Sau Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai tên là Âu Cơ, Âu Cơ sinh ra một bọc có trăm trứng, trăm trứng ấy nở thành trăm con trai. Một ngày, Long Quân nói với Âu Cơ rằng: “Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, thủy hỏa khác nhau, không ở cùng với nhau được”. Hai người bèn chia con ra mà ở riêng. Năm mươi người con theo cha xuống biển, năm mươi người con theo mẹ lên rừng, chia nhau thống trị các xứ đó; đó là thủy tổ của các nhóm Bách Việt[13]. Chúng ta không cuồng tín đến mức như có một ông tiến sĩ nào đó ở hải ngoại đã bỏ thời gian hàng năm trời để nghiên cứu, rồi áp dụng cả kiến thức Di Truyền học, Tế bào học để chứng minh rằng chúng ta không phải là “con Rồng, cháu Tiên”. Đó là một việc làm không cần thiết và thiếu khôn ngoan. Cái gì là huyền thoại hãy cứ để cho nó mãi mãi là huyền thoại. Tuy nhiên chúng ta cần phải hiểu một điều là: Muốn nói gì thì nói, Việt Nam ở bên cạnh một “anh hàng xóm” vừa hùng mạnh lại vừa tham lam vừa tàn ác, có tổ tiên xuất xứ từ dân du mục đó là dân tộc Hán. Trong khi đó, chúng ta đều biết bản chất của dân du mục là: Thích chinh phục, trọng sức mạnh, trọng võ, trọng nam. Độc tôn trong tiếp nhận, cứng rắn và hiếu thắng trong đối phó [14]. Một điều không thể chối cãi là trong suốt chiều dài hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã làm cho tất cả các sắc dân trên đất Việt hiểu một điều rằng: nếu muốn tồn tại họ không còn cách nào khác là phải đoàn kết gắn bó với nhau. Trong mối quan hệ giữa con người với con người thì không có mối quan hệ nào bền chặt bằng mối quan hệ cùng huyết thống. Chính bởi vậy huyền thoại: tất cả các sắc dân trên đất Việt đều sinh ra từ một bà mẹ, cùng nằm trong một bào thai, một cái bọc ra đời, từ đó mới hình thành từ đồng bào. Khi tất cả các sắc dân đoàn kết, gắn bó với nhau thì quả thật họ đã dựng được nước và giữ được nước một cách oanh liệt. Mặc dù đất nước này đã phải trải qua nhiều trang sử vô cùng bi tráng. Như thế, huyền thoại tất cả mọi người đều sinh bởi cùng một mẹ, nằm chung trong một cái bọc, một bào thai, tất cả đều là máu mủ ruột rà của nhau được mọi sắc dân trên đất Việt mặc nhiên thừa nhận. Về mặt truyền thống dân tộc phải nói đây là một điều rất tốt, đáng trân trọng và cần được giữ gìn. Tuy nhiên, nếu “Việt hóa” Kinh Thánh đến mức dùng từ Đồng bào thay cho từ dân sự  hay từ dân Chúa thì lại không ổn. Bởi hai từ này chỉ dùng cho tuyển dân của Đức Chúa Trời, và về một khía cạnh nào đó dễ gây ra sự khúc mắc không đáng có về lĩnh vực thuộc linh. Vì thế trong Kinh Thánh nên sử dụng từ dân Chúa  sẽ hay hơn và hợp lý hơn từ Đồng bào. . .

Bên cạnh đó bản TTHĐ còn hiện đại hóa từ ngữ hơi thái quá, nhiều câu, nhiều đoạn đưa cả từ ngữ  “công sở” vào Kinh Thánh, điều này phần nào đó nó ảnh hưởng đến tính tôn nghiêm của Kinh Thánh. Ví dụ: Lu-ca 1: 8 trong bản dịch năm 1926 ghi: “Xa-cha-ri cứ theo thứ tự trong ban mình mà làm chức tế lễ trước mặt Đức Chúa Trời”; nhưng trong bản TTHĐ lại chép: “Chuyện xảy ra khi Xa-cha-ri làm công tác tế lễ trước mặt Đức Chúa Trời”. Một câu khác là: Giăng 15: 16 trong bản dịch 1926 chép là: “Ấy chẳng phải các ngươi đã chọn Ta, bèn là Ta đã chọn và lập các ngươi, để các ngươi đi và kết quả . . .”,  còn trong bản TTHĐ lại chép: “Không phải các con đã chọn Ta, nhưng Ta đã chọn và bổ nhiệm các con, để các con đi, được kết quả . . .”. Rõ ràng những từ hay cụm từ như: công tác  hay  bổ nhiệm  thì sẽ thích hợp hơn nếu nó được dùng trong công sở thời nay chứ không hề thích hợp khi sử dụng trong Kinh Thánh đã có từ cách đây hàng ngàn năm.

. . .

Thưa các quí con cái Chúa! Do chưa có điều kiện đọc kỹ bản TTHĐ, và cũng chưa thể nghiên cứu một cách chu đáo, nên chúng tôi chưa thể phát hiện được nhiều  những điều hay vượt trội và cả những điều chưa thật sự phù hợp của bản TTHĐ. Những nhận xét trên đây chỉ là những nhận xét bước đầu, có thể còn mang nặng tính chủ quan. Nhưng dù sao chúng tôi cũng thấy rằng: bản TTHĐ thực sự là một ấn bản tốt hiện nay để trang bị Lời Chúa cho các con cái của Ngài trên đất nước VN của chúng ta. Chúng tôi cũng hy vọng rằng: rồi đây các HT truyền thống cũng như độc lập sẽ dùng bản TTHĐ và sử dụng ấn bản này một cách phổ biến và thường xuyên hơn. Mong rằng các quí vị trong Ban Hiệu Đính sẽ tiếp tục công việc cao trọng mà Chúa đã giao cho các quí vị để đem đến cho các con cái Chúa là người Việt có những ấn bản ngày càng hoàn hảo hơn.

Nguyện xin Đức Chúa Trời luôn ban ân sủng dồi dào trên các quí vị. Amen!

                                                                 Hà nội 30/07/2014

Tín trung & Thiên Nhân

(Giáo Sư của V.I.B.I)

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Kinh Thánh Tiếng Việt: bản năm 1926, 2002, BTTHĐ.

2. Kinh Thánh Tiếng Anh: bản KJV và NIV.

3. Thánh Kinh Tân Từ Điển. Viện Thần Học Tin Lành Việt Nam. NXB Phương Đông. Năm 2009.

4. Từ Điển Tiếng Việt. Viện Ngôn Ngữ Học. NXB Đà Nẵng. 2004.

5. Từ Điển Trung – Việt. Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam. NXB Khoa Học Xã Hội. 1997.

6. Các Triều Đại Việt Nam. Quỳnh Cư – Đỗ Đức Hùng. NXB Thanh Niên. 2001.

7. Tìm Về Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam. Trần Ngọc Thêm. NXB Tổng hợp TP HCM. 2006.

8. Tạp chí Xưa & Nay. Cơ Quan Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam. Số 429, 430.

9. Các trang web: http://www.biblevietnam.org; Hoithanh.com . . .

 

Chú thích:

[1] http://www.biblevietnam.org. Thánh Kinh Hội Tại Việt Nam.

[2] http://www.biblevietnam.org. Thánh Kinh Hội Tại Việt Nam.

[3] Nguyễn Đình Bùi Thị. Hoithanh.com,21: 39, thứ Năm,10/03/2011.

[4] Viện Ngôn Ngữ Học. Từ Điển Tiếng Việt. NXB Đà Nẵng. 2004.

[5] New International Version. 1997. Trang 21.

[6] Viện Ngôn Ngữ Học. Từ Điển Tiếng Việt. NXB Đà Nẵng. 2004. Trg 442.

[7]  Viện Ngôn Ngữ Học. Từ Điển Tiếng Việt. NXB Đà Nẵng. 2004. Trg 441.

[8] Viện Khoa Học Xã Hội VN. Từ Điển Trung Việt. NXB KHXH. 1997. Trg 1337.

[9] Viện Khoa Học Xã Hội VN. Từ Điển Trung Việt. NXB KHXH. 1997. Trg 1309.

[10] Viện Khoa Học Xã Hội VN. Từ Điển Trung Việt. NXB KHXH. 1997. Trg 850.

[11] [11] Viện Khoa Học Xã Hội VN. Từ Điển Trung Việt. NXB KHXH. 1997. Trg 673.

[12] Viện Thần Học Tin Lành Việt Nam. Thánh Kinh Tân Tự Điển. NXB Phương Đông. 2009. Trang 1085.

[13] Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng. Các Triều Đại Việt Nam. NXB Thanh Niên. 2001. Trang 11.

[14] Trần Ngọc Thêm. Tìm Về Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam. NXB Tổng Hợp TP HCM. 2006. Trang 48.

 

 



Comments

comments

About The Author

Number of Entries : 217

Liên Phái Thánh Kinh Thần Học Viện Việt Nam Website đang xây dựng

Scroll to top