VÀI CẢM NHẬN ĐẦU TIÊN KHI ĐỌC BẢN KINH THÁNH TRUYỀN THỐNG HIỆU ĐÍNH Reviewed by Momizat on . Trong dịp các con dân Chúa trên đất Việt đang rất phấn chấn đón mừng: Đại lễ 100 Tin Lành đến Việt Nam, thì Liên Hiệp Thánh Kinh Hội (UBS) đã làm được một việc Trong dịp các con dân Chúa trên đất Việt đang rất phấn chấn đón mừng: Đại lễ 100 Tin Lành đến Việt Nam, thì Liên Hiệp Thánh Kinh Hội (UBS) đã làm được một việc Rating:
You Are Here: Home » Mục Vụ » Bài viết phân tích » VÀI CẢM NHẬN ĐẦU TIÊN KHI ĐỌC BẢN KINH THÁNH TRUYỀN THỐNG HIỆU ĐÍNH

VÀI CẢM NHẬN ĐẦU TIÊN KHI ĐỌC BẢN KINH THÁNH TRUYỀN THỐNG HIỆU ĐÍNH



kinhthanh-hieudinh

Trong dịp các con dân Chúa trên đất Việt đang rất phấn chấn đón mừng: Đại lễ 100 Tin Lành đến Việt Nam, thì Liên Hiệp Thánh Kinh Hội (UBS) đã làm được một việc đầy ý nghĩa để chào mừng Đại Lễ này bằng việc đã hoàn thành và phổ biến Bản Kinh Thánh Truyền Thống Hiệu Đính (BTTHĐ)Các quí con cái Chúa trên khắp đất nước này đều phải tạ ơn Chúa bởi Ngài đã sai UBS mang Lời Hằng Sống đến cho dân tộc ViệtNam từ cách đây gần 90 năm.  Đạo Chúa được phấn hưng trên khắp đất nước ViệtNam như ngày hôm nay không thể không nhắc đến công khó của UBS.

        Nếu tính từ khi bản dịch được UBS xuất bản lần đầu tiên năm 1926[1] đến nay đã 85 năm. Trong khoảng thời gian ấy UBS đã xuất bản và phân phối được một số lượng lớn Kinh Thánh đến tay các tín hữu Tin Lành. Theo con số do chính UBS thống kê được, đến nay đã có khoảng 700 000 ấn bản trọn bộ và 2 200 000 ấn bản Tân Ước bằng tiếng Việt đã đến tay người đọc[2]. Tất cả những ấn bản đó đều dùng bản dịch được xuất bản từ năm 1926 (chúng ta gọi vắn tắt là Bản dịch năm 1926). Chúng ta phải thừa nhận rằng bản dịch được xuất bản năm 1926 là một bản dịch hay, văn chương trau chuốt, trong sáng, với sự cộng tác rất đắc lực của học giả, nhà văn Phan Khôi; mà sau này khi nhắc đến sự đóng góp của ông đã có người viết rằng:Ngày nay và cả sau nầy nữa, khi đề cập đến  những bản Kinh Thánh Việt ngữ, thì người ta, nhất là những tín hữu Tin Lành Việt Nam, không thể nào không nhắc đến tên tuổi của Phan Khôi, đóng góp của Phan Khôi, nhắc đến với lòng biết ơn và trân trọng vậy[3]Với quãng cách 85 năm thì đây chưa phải là một thời gian dài so với lịch sử của một dân tộc, hoặc trong lịch sử phát triển của loài người. Tuy nhiên đó cũng là một khoảng thời gian đủ để ngôn ngữ của một dân tộc có những thay đổi.  Ngày nay thật khó để chúng ta có thể  hiểu được những từ ngữ được sử dụng thông dụng vào những thập kỷ thứ 10 hay 20 của thế kỷ thứ 20. Chúng ta hoàn toàn lúng túng khi gặp những cụm từ hoặc những từ kiểu như: nhuần gội (Châm ngôn 11: 25); hay ghe phen(Lu-ca 13: 34; Rô-ma 1: 13); hay đòi phen (II Cô-rinh-tô 11: 23); hoặc chỉn (Thi thiên 91: 8; Giê-rê-mi3: 13; Rô-ma14: 14) . . .

Một điều nữa chúng ta phải thừa nhận rằng, Kinh Thánh mang tính xuyên mọi nền văn hóa, nhưng ngôn ngữ của con người của bất kỳ dân tộc nào cũng đều có sự thay đổi theo thời gian. Vì thế việc phải hiệu đính bản dịch năm 1926 để thích ứng với ngôn ngữ hiện đại là tất yếu. Nhưng hiệu đính ở đây không có nghĩa là dịch lại mà là xem xét, đối chiếu và sửa lại văn bản cho đúng[4], hoàn chỉnh hơn, phù hợp hơn với ngôn ngữ đương thời. Chính điều này lại nảy sinh một nhu cầu thiết yếu với các nhà hiệu đính là phải đặc biệt quan tâm đến sự vay mượn, pha trộn cũng như sự tinh tế, sắc xảo và phong phú về cách sử dụng ngôn ngữ của người Việt.

Xét về các tiêu chí, các công đoạn đặt ra trong quá trình hiệu đính, các cuộc hội thảo đã cho thấy, UBS đã rất kỳ công để làm công việc cao trọng này. Bên cạnh đó phần Lời Nói Đầu của Bản Hiệu Đính cũng cho biết: Bản Tân Ước hiệu đính hoàn thành vào năm 2004, bản Cựu Ước hiệu đính hoàn thành vào năm 2007. Đồng thời UBS cũng đã tổ chức ba lần hội thảo về công tác hiệu đính vào năm 2005, 2007 và 2009 ở tại TP HCM. Chính bởi sự chu đáo này của UBS mà Bản Truyền Thống Hiệu Đính (BTTHĐ) được toàn thể các con cái Chúa người Việt chờ đợi và ngưỡng mộ. Tuy chưa được đọc và nghiên cứu kỹ nhưng những cảm nhận ban đầu của chúng tôi là BTTHĐ đã làm được rất nhiều điều vượt trội so với bản dịch năm 1926, như sử dụng nhiều từ ngữ chính xác hơn, loại bỏ được những từ cổ không còn phù hợp, loại bỏ bớt những từ địa phương (phương ngữ), làm cho nhiều người, ở nhiều trình độ khác nhau nhưng đều dễ đọc, dễ hiểu, dễ tiếp thu và ít phải tra cứu. Nhưng cũng có điều chúng ta phải chấp nhận là: Không có bất kỳ một bản dịch Kinh Thánh nào là hoàn hảo cả, mà chúng ta chỉ hy vọng càng ngày các bản dịch càng đi sát với chân lý hơn mà thôi.Chúng tôi cho rằng ngay cả trong BTTHĐ lần này cũng không thể tránh khỏi điều đó. Nhiều khi có thể vì quá chú trọng vào tính chính xác của câu chữ mà các nhà hiệu đínhlại bỏ qua tính đặc thù về văn hóa, sự tinh tế cũng như sự đa dạng trong lối sử dụng ngôn ngữ của người Việt. Điều này làm giảm đi phần nào sự hấp dẫn, sự trau chuốt của BTTHĐ, mặc dù BTTHĐ có nhiều điều vượt trội.

Bước đầu chúng tôi xin mạo muội đưa ra một số điểm rất nhỏ như sau, để hy vọng rằng Ban Hiệu Đính xem xét và nếu đúng thì sẽ bổ sung, còn nếu chưa đúng thì chúng tôi xin được chỉ bảo. Cụ thể như sau:

1) Có những địa điểm mang địa danh không chính xác nhưng vẫn chưa được thay thế: Ví dụ: Dân số 12: 1 trong bản dịch năm 1926 có chép: Mi-ri-am và A-rôn nói hành Môi-se về việc người nữ Ê-ti-ô-pi mà người đã lấy . . . Tuy nhiên cũng câu này trong bản dịch năm 2002 (bản này dựa hoàn toàn vào bản gốc tiếng Hê-bơ-rơ và tiếng Hy-lạp và không phải do UBS dịch) thì lại chép rằng: Môi-se cưới người nữ xứ Cút. Khi tra cứu bản tiếng Anh NIV cũng thấy chép rằng Môi-se cưới vợ người xứ Cút. Còn trong bản KJV lại ghi là Môi-se lấy vợ người xứ Ê-ti-ô-pi. Riêng BTTHĐ mới đây vẫn ghi là Môi-se cưới vợ người xứ Ê-ti-ô-pi. Vậy, bản nào đúng, bản nào sai thì BTTHĐ cần phải làm rõ và sửa lại, bên cạnh đó phải có chú thích mới không gây thắc mắc cho độc giả.Có như vậy mới có thể đảm bảo tính thống nhất và tính không sai lạc của Kinh Thánh.

2) Thay đổi tên người nhưng không chú thích. Ví dụ: Trong Sáng thế 10: 6 thì cả hai bản tiếng Anh là KJV và NIV đều ghi con trai của Cham có một người tên là Mizraim (được dịch ra tiếng Việt là Mích-ra-im) , và cả bản dịch năm 1926 lẫn bản dịch năm 2002 đều thống nhất ghi là: Con trai của Cham là Cúc, Mích-ra-im, Phút và Ca-na-an.Thế nhưng trong BTTHĐ lại ghi là: Con trai của Cham là Cút, Ai-cập, Phút và Ca-na-an mà không hề chú thích. Điều này làm cho người đọc rất băn khoăn là tại sao trong hai bản dịch kia thì con trai của Cham tên là Mích-ra-im mà trong BTTHĐ lại mang tên là Ai-cập? Thế thì bản nào đúng, bản nào sai? Mặt khác, điều khiến cho người đọc thêm bối rối là ở chỗ: Nếu con trai của Cham có người tên là Ai-cập, thì vị này có phải là tổ tiên của dân Ai-cập sau này không? . . . Chỉ đến khi tra cứu ở trong cuốn NIV thì mới tìm thấy chú thích của Genesis 10: 6 dòng chữ sau: That is Egyp[5]Tuy nhiên rất tiếc là trong BTTHĐ lại không chú thích điều này, trong khi đáng ra BTTHĐ phải làm điều đó.

3) Có những câu sau khi hiệu đính thì lại làm cho ý nghĩa khác hẳn so với bản dịch năm 1926, trong khi chính câu đó trong bản dịch năm 1926 là hợp lý hơn và tinh tế hơn và cần được giữ lại. Ví dụ: Sáng thế 1: 26-27 trong bản dịch năm 1926 ghi như sau: 26 Đức Chúa Trời phán rằng: Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta, đặng quản trị loài cá biển, loài chim trời, loài súc vật, loài côn trùng bò trên mặt đất, và khắp cả đất. 27 Đức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài; Ngài dựng nên loài người giống như hình Đức Chúa Trời . . . Trong khi bản dịch năm 2002 thì ghi là: 26 Đức Chúa Trời phán: “Chúng ta hãy tạo nên loài người như hình thểTa và giống như Ta, để quản trị các loài cá biển, chim trời, súc vật trên cả trái đất và các loài vật bò trên đất.” 27 Đức Chúa Trời tạo loài người theo hình ảnh Ngài. Ngài sáng tạo loài người như hình ảnh Đức Chúa Trời. . . Còn bản hiệu đính thì dịch là: Đức Chúa Trời phán: “Chúng ta hãy tạo nên loài người theo hình ảnh Chúng Ta và giống như Chúng Ta . . . Đức Chúa Trời sáng tạo loài người theo hình ảnh Ngài; Ngài sáng tạo loài người theo hình ảnh Đức Chúa Trời . . . Vấn đề đáng nói ở đây là chữ Hình và chữ Tượng trong bản dịch năm 1926 so sánh với chữ Hình thể trong bản dịch năm 2002 và chữ Hình ảnh trong BTTHĐ. Trước hết chúng ta xét đến chữ Hình thể trong bản dịch năm 2002; rõ ràng cách dùng này là không được hợp lý và tinh tế lắm. BởiHình thể là bao gồm toàn thể những đường nét bên ngoài của một vật thể hay của một người cụ thể nào đó[6]. Còn từ Hình ảnh là hình người hay vật, hay cảnh tượng thu được bằng khí cụ quang học, hoặc để lại ấn tượng nhất định và tái hiện được trong trí[7]mặc dù trong ngôn ngữ của người Việt cũng có lúc từ hình ảnh được sử dụng để hàm ý nói một cách bóng bẩy trong những ngữ cảnh cụ thể. Như vậy, cách dùng này trong bản dịch hiệu đính cũng lại thiếu chính xác và đi đúng vào vết xe đổ của bản dịch năm 2002 của các con cái Chúa người Việt. Lý do là theo khái niệm vềHình ảnh và Hình thể thì rõ ràng yêu cầu đầu tiên là phải có vật hay người, hay cảnh thật bằng vật chất, và phải chiêm ngưỡng được bằng con mắt vật lý của con người. Nếu không có vật thật, người thật, cảnh thật thì không thể có Hình ảnh hay Hình thểđược. Trong khi Đức Chúa Trời là Thần, Ngài hoàn toàn vô ảnh vô hình. Không một ai có thể chiêm ngưỡng dung nhan Ngài. Ngay đến cả người do chính Ngài lựa chọn thì Ngài cũng phán rằng:  “không ai thấy mặt ta mà còn sống” (Xuất 33: 20). Do đó nếu dịch câu này là: Đức Chúa Trời tạo nên loài người như Hình thể hay Hình ảnh Ngài là một điều thiếu chính xác và uyển chuyển trong cách sử dụng tiếng Việt.

 Nhưng nếu dùng chữ Hình và Tượng như ở trong bản dịch năm 1926 thì tình hình lại đi theo chiều hướng khác. Chúng ta phải thừa nhận rằng các dịch giả cùng thời với cụ Phan Khôi đã được Chúa xức dầu và ban ơn thương xót. Tuy chúng ta ngày nay không ai được chứng kiến công việc của các dịch giả thời đó; nhưng rất có thể các dịch giả thời đó đã tham khảo bản Kinh Thánh tiếng Trung Hoa, đồng thời họ hiểu biết về cách sử dụng ngôn ngữ Hán Việt cách sâu sắc nên mới có cách dùng từ Hán Việt một cách hết sức chính xác, tinh tế và uyển chuyển như vậy. Tại sao chúng tôi có thể nói được như vậy? Bởi trong tiếng Hán từ Hình nghĩa là hình dạng, hình tượng, hình bóng . . . nhưng cũng còn chữ Hình nữa ngoài nghĩa là hình dạng thì còn có nghĩa là một cái khuôn bằng đất[8], còn chữ Tượng ngoài nghĩa là dạng hình, phỏng theo, biểu tượng, dáng vẻ . . . nó còn nói đến trạng thái về tinh thần[9] hay chính là nói đến phần thuộc linh của con người, mà phần này thì không thể có cách nói nào khác là hoàn toàn đến bởi Đấng Tạo Hóa. Như vậy nếu dịch như bản dịch năm 1926 là: Đức Chúa Trời phán rằng: Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta thì không chỉ trau chuốt về mặt chữ nghĩa mà còn rất tinh tế và hợp lô-gic vì rõ ràng Kinh Thánh có chép:“Giê-hô-va Đức Chúa Trời bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh” (Sáng thế 2: 7, BDC). Điều này cũng có nghĩa là chính Đức Chúa Trời đã lấy bụi đất để nắn lên một cái khuôn bằng đất sau đó Ngài ban cho cái khuôn bằng đất ấy phần thần linh của Ngài để rồi cái khuôn ấy trở nên một sinh linh sống động như Sáng thế 2: 7 đã xác nhậnNhư vậy theo cách dịch của bản năm 1926 thì Sáng thế 1: 26-27 là hoàn toàn phù hợp khi đối chiếu với Sáng thế 2: 7; và khi đó đọc Sáng thế 1: 26-27 theo bản dịch năm 1926 thì người ta có thể nhìn thấy phần của Đức Chúa Trời trong mỗi con người, phần này nó hàm chứa ở trong chữ Tượng. Thật là tuyệt vời và màu nhiệm khi Kinh Thánh đã xác chứng rằng:“Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con một Theo tiếng bổn thì chữ “Con một”có ý là Con sanh ra chỉ có một mà đến từ nơi Cha” (Giăng 1: 14, BDC); nghĩa là sau này Ngôi Lời đã bày tỏ Đức Chúa Cha thông qua chính cái khuôn mà Ngài đã tạo dựng từ thuở sáng thế. Bởi thế sau này trong triết học Phương Đông mới có câu: Hình tại hạ tức là thuộc đất, còn Tượng tại thượng tức là thuộc về trờiKhông phải ngẫu nhiên người ta lại gọi cơ quan theo dõi các hiện tượng tự nhiên xảy ra trong tầng bình lưu của khí quyển trái đất (tức là những hiện tượng xảy ra ở trên trời) là: Nha Khí Tượng.

Còn trong trường hợp nếu chúng ta cứ giữ từ Hình ảnh hay Hình thể thì đến khi giải kinh chúng ta sẽ gặp rất nhiều khó khăn, vì buộc phải giải nghĩa một cách rất gượng ép rằng: Chúng ta không được hiểu Hình ảnh theo nghĩa đen. Hình ảnh Đức Chúa Trời ở đây phải hiểu theo nghĩa thuộc linh nghĩa là chúng ta giống Đức Chúa Trời về mặt tâm linh, về tình yêu thương, về đạo đức, về sự khôn ngoan . . . Và rõ ràng cách giải thích như vậy hoàn toàn không có cơ sở, và thiếu thuyết phục. Bởi lẽ đã gọi là hình ảnh thì không thể có cách giải thích nào khác ngoài việc buộc phải công nhận rằng trước tiên phải có hình thật thì sau đó mới có thể có ảnh. Chúng ta có thể lý luận rằng:Trong nguyên bản tiếng Hê-bơ-rơ thì từ đó đúng là hình ảnh, và cho rằng điều đó là đúng thì chúng ta cũng nên có những thay đổi cho chuẩn mực để phù hợp với sự tinh tế và trau chuốt của ngôn ngữ bản địa. Tránh đi những từ mà khi đối chiếu với Từ Điển Tiếng Việt có thể gây ra sự thắc mắc hoặc hiểu lầm.

Do vậy theo thiển ý của chúng tôi riêng câu Sáng thế1: 26nên giữ như bản năm 1926 thì sẽ hợp lý hơn và ý nghĩa hơn. Vì đọc câu này người ta sẽ nhìn thấy phần “thiên thượng” trong bản thân mỗi con người là tạo vật của Đấng Tạo Hóa.

4) Có những từ không chính xác cần được thay đổi nhưng BTTHĐ vẫn giữ nguyên như bản dịch năm 1926. Ví dụ: trong Khải huyền 1: 1 thì bản dịch năm 1926 chép: Sự mặc thị của Đức Chúa Jêsus-Christ . . . Bản dịch năm 2002 thì chép: Đây là mạc khải của Chúa Cứu Thế Giê-su . . . còn BTTHĐ thì ghi là: Sự mặc khải của Đức Chúa Jêsus Christ . . . đối với bản tiếng Anh như KJV và NIV thì đều ghi là: The revelation of Jesus Christ . . . vấn đề đặt ra ở đây là: vậy thì dùng chữ nào cho đúng, mạc haymặc? Về vấn đề này chúng tôi xin được trình bày như sau: Trước hết xét về chữ mặc,trong tiếng Hán thì có nhiều chữ mặc mang nhiều ý nghĩa khác nhau: mặc có thể làmực Tàu, mực viết, màu đen . . . lặng lẽ, không lên tiếng, trầm mặc[10] . . . Còn chữmạc thì trong tiếng Hán cũng có nhiều chữ mạc với nhiều ý khác nhau. Ví dụ: mạc có thể là: bãi hoang mạc, là lãnh đạm, là thờ ơ; nhưng mạc cũng còn là cái màn, màn sân khấu, cái trướng, màn kịch . . . Bây giờ chúng ta cùng xét xem chữ mạc hay chữmặc ghép với chữ khải sẽ hợp lý hơn? Trong tiếng Hán thì cũng có nhiều chữ khải với nhiều ý nghĩa khác nhau; ví dụ: khải  có thể là phép tắc, gương mẫu, chữ khải hoặc cũng có thể là thắng lợi, khải hoàn cũng có thể là áo giáp sắt, cũng có thể là bóc ra, mở ra, vén màn lên[11]. . . Nếu theo sự tra cứu trên thì rõ ràng chữ khải chỉ có thể ghép với chữ mạc thành ra cụm từ mạc khải mới chính xác, hợp lý và có ý nghĩa, nếu như đem đối chiếu với từ revelation trong tiếng Anh. Nói đến sự mạc khải là nói đến sự mở ra, bày tỏ ra, hay vén một tấm màn lên, như khi hai tấm màn nhung của sân khấu đang còn che kín sân khấu, thì không ai có thể nhìn thấy gì như con người hay cảnh trí trong sân khấu cả. Nhưng khi tấm màn được vén lên thì toàn bộ những cảnh trí của sân khấu mà trước đó còn là bí mật với khán giả được bày tỏ ra hết và ai cũng có thể chiêm ngưỡng được; và nếu có người nói rằng Đức Chúa Trời mạc khải cho loài người thì có nghĩa là Ngài tự bày tỏ (tiết lộ) chính Ngài cho loài người thì loài người có thể nhận biết về Ngài. Vậy phải dùng là mạc khải mới chính xác chứ không thể nói là mặc khải. Thật đang tiếc ngày nay rất nhiều tài liệu vẫn sử dụng mặc khảithay vì phải dùng mạc khải mới chính xác. Thậm chí ngay cả ở những cuốn sách hết sức đáng trân trọng và có thể nói là không được phép sai vẫn dùng từ mặc khải một cách rất hồn nhiên như trong cuốn: Thánh Kinh Tân Tự Điển cũng dịch revelation làMặc khải, mặc thị hay sự tiết lộ[12]. Trong khi nếu xét về phương diện ngôn ngữ (Hán – Việt) thì không biết phải hiểu như thế nào cho đúng khi ghép chữ mặc với chữkhải hoặc chữ mặc với chữ thị.

5) Có những từ hoặc cụm từ sau khi hiệu đính làm cho người đọc không hiểu gì so với các bản dịch khác; ví dụ: sách Ma-thi-ơ 16: 3 trong bản dịch năm 1926 thì ghi là:Các ngươi biết phân biệt rõ sắc trời, mà không phân biệt được dấu chỉ của thời giờư? Trong bản dịch năm 2002 thì ghi là: Các ông biết nhìn bầu trời để tiên đoán thời tiết, nhưng sao lại không biết phân biệt các dấu lạ của thời đạiNhưng trong BTTHĐ thì ghi là: Các ngươi biết phân biệt rõ sắc trời, mà không biết phân biệt các thời triệusao? Một điều có thể nhận thấy ngay là: Nếu như chúng ta đọc câu này ở trong bản dịch năm 1926, hoặc một bản dịch khác là bản dịch năm 2002 thì người đọc có thể hiểu được. Nhưng khi đọc câu này trong BTTHĐ thì quả thật người ta không hiểu thời triệu là gì. Chúng tôi có tra trong Từ Điển Tiếng Việt thì không thấy từ này, chúng tôi cho rằng hoặc có thể là phương ngữ, hoặc có thế là từ mới. Tuy nhiên nếu là phương ngữ hay từ mới thì cũng nên chú thích cho độc giả để độc giả không bị bối rối.

6) Có một số trường hợp “Việt hóa” không cần thiết. Trong phần Lời Nói Đầu của BTTHĐ có nói rằng thay chữ dân sự bằng dân Chúa tuy nhiên có một vài chỗ ở trong Kinh Thánh từ dân sự hoặc dân Chúa lại được thay bằng từ Đồng bào. Ví dụ: Công vụ 7: 37; I Tê-sa-lô-ni-ca 2: 14 . . . Chúng ta đều biết từ Đồng bào này thì hầu như chỉ người Việt Nam mới sử dụng. Nó xuất xứ từ huyền thoại dân Việt ta là “con rồng, cháu tiên”. Tục truyền rằng: vào năm Nhâm Tuất (2879 T. C) Kinh Dương Vương lên làm vua, và lấy con gái Thần Long là vua hồ Động Đình, sinh được một con trai đặt tên là Sùng Lãm, nối ngôi làm vua xưng là Lạc Long Quân. Sau Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai tên là Âu Cơ, Âu Cơ sinh ra một bọc có trăm trứng, trăm trứng ấy nở thành trăm con trai. Một ngày, Long Quân nói với Âu Cơ rằng: “Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, thủy hỏa khác nhau, không ở cùng với nhau được”. Hai người bèn chia con ra mà ở riêng. Năm mươi người con theo cha xuống biển, năm mươi người con theo mẹ lên rừng, chia nhau thống trị các xứ đó; đó là thủy tổ của các nhóm Bách Việt[13]. Chúng ta không cuồng tín đến mức như có một ông tiến sĩ nào đó đã bỏ thời gian hàng năm trời để nghiên cứu áp dụng cả Di Truyền học để chứng minh rằng chúng ta không phải là “con Rồng, cháu Tiên”. Đó là một việc làm không cần thiết và thiếu khôn ngoan. Cái gì là huyền thoại hãy cứ để cho nó mãi mãi là huyền thoại. Tuy nhiên chúng ta cần hiểu một điều là: Muốn nói gì thì nói, Việt Nam ở bên cạnh một “anh hàng xóm” hùng mạnh lại có tổ tiên xuất xứ từ dân du mục chính cống là dân tộc Hán. Trong khi đó, chúng ta đều biết bản chất của dân du mục là: Thích chinh phục, trọng sức mạnh, trọng võ, trọng nam. Độc tôn trong tiếp nhận, cứng rắn và hiếu thắng trong đối phó[14]. Một điều không thể chối cãi là trong suốt chiều dài hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã làm cho tất cả các sắc dân trên đất Việt hiểu được rằng, nếu muốn tồn tại họ không còn cách nào khác là phải đoàn kết gắn bó với nhau. Trong mối quan hệ giữa con người với con người thì không có mối quan hệ nào bền chặt bằng mối quan hệ cùng huyết thống. Chính bởi vậy huyền thoại tất cả các sắc dân trên đất Việt đều sinh ra từ một bà mẹ, cùng nằm trong một bào thai (hay Đồng bào) ra đời. Khi tất cả các sắc dân đoàn kết, gắn bó với nhau thì quả thật họ đã dựng được nước và giữ được nước một cách oanh liệt. Mặc dù đất nước này đã phải trải qua nhiều trang sử vô cùng bi tráng. Như thế, huyền thoại tất cả mọi người đều sinh bởi cùng một mẹ, nằm chung trong một bào thai, tất cả đều là máu mủ ruột rà của nhau được mặc nhiên thừa nhận. Về mặt truyền thống dân tộc phải nói đây là một điều rất tốt, đáng trân trọng và cần được giữ gìn. Tuy nhiên, nếu “Việt hóa” Kinh Thánh đến mức dùng từ Đồng bào thay cho từ dân sự hay từ dân Chúa thì lại không ổn. Bởi những từ này chỉ dùng cho tuyển dân của Đức Chúa Trời, và về một khía cạnh nào đó dễ gây ra sự khúc mắc không đáng có về lĩnh vực thuộc linh. Vì thế trong Kinh Thánh nên sử dụng từ dân Chúa sẽ hay hơn và hợp lý hơn từĐồng bào. . .

Thưa các quí con cái Chúa! Do chưa có điều kiện đọc kỹ BTTHĐ, và cũng chưa thể nghiên cứu một cách chu đáo, nên chúng tôi chưa thể phát hiện được nhiều hơn những điều hay vượt trội và cả những điều chưa thật sự phù hợp của BTTHĐ. Những nhận xét trên đây chỉ là những nhận xét bước đầu mang nặng tính chủ quan. Nhưng dù sao chúng tôi cũng thấy rằng: BTTHĐ thực sự là một ấn bản tốt hiện nay để trang bị Lời Chúa cho các con cái của Ngài trên đất nước VN của chúng ta. Chúng tôi cũng hy vọng rằng: rồi đây các HT truyền thống cũng như độc lập sẽ dùng BTTHĐ và sử dụng ấn bản này một cách phổ biến và thường xuyên hơn. Mong rằng các quí vị trong Ban Hiệu Đính sẽ tiếp tục công việc cao trọng mà Chúa đã giao cho các quí vị để đem đến cho các con cái Chúa là người Việt có những ấn bản ngày càng hoàn hảo hơn.

Nguyện xin Đức Chúa Trời luôn ban ân sủng dồi dào trên các quí vị. Amen!

                                                                 Hà nội 07/05/2011

 Trung Tín & Thiện Nhân

(V.I.B.I)

 TÀI LIỆU THAM KHẢO: 

 1. Kinh Thánh: bản năm 1926, 2002, BTTHĐ, KJV và NIV.

2. Thánh Kinh Từ Điển.

3. Từ Điển Tiếng Việt.

4. Từ Điển Hán – Việt.

5. Các Triều Đại ViệtNam.

6. Tìm Về Bản Sắc Văn Hóa ViệtNam.

 


[1] http://www.biblevietnam.org. Thánh Kinh Hội Tại ViệtNam.

[2] http://www.biblevietnam.org. Thánh Kinh Hội Tại ViệtNam.

[3] Nguyễn Đình Bùi Thị. Hoithanh.com,21: 39, thứ Năm,10/03/2011.

[4] Viện Ngôn Ngữ Học. Từ Điển Tiếng Việt. NXB Đà Nẵng. 2004.

[5] New International Version. 1997. Trang 21.

[6] Viện Ngôn Ngữ Học. Từ Điển Tiếng Việt. NXB Đà Nẵng. 2004. Trg 442.

[7]  Viện Ngôn Ngữ Học. Từ Điển Tiếng Việt. NXB Đà Nẵng. 2004. Trg 441.

[8] Viện Khoa Học Xã Hội VN. Từ Điển Trung Việt. NXB KHXH. 1997. Trg 1337.

[9] Viện Khoa Học Xã Hội VN. Từ Điển Trung Việt. NXB KHXH. 1997. Trg 1309.

[10] Viện Khoa Học Xã Hội VN. Từ Điển Trung Việt. NXB KHXH. 1997. Trg 850.

[11] [11] Viện Khoa Học Xã Hội VN. Từ Điển Trung Việt. NXB KHXH. 1997. Trg 673.

[12] Viện Thần Học Tin Lành ViệtNam. Thánh Kinh Tân Tự Điển. NXB Phương Đông. 2009. Trang 1085.

[13] Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng. Các Triều Đại ViệtNam. NXB Thanh Niên. 2001. Trang 11.

[14] Trần Ngọc Thêm. Tìm Về Bản Sắc Văn Hóa ViệtNam. NXB Tổng Hợp TP HCM. 2006. Trang 48.




Comments

comments

About The Author

Number of Entries : 217

Liên Phái Thánh Kinh Thần Học Viện Việt Nam Website đang xây dựng

Scroll to top