Cơ Đốc nhân với Tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên Reviewed by Momizat on . CƠ ĐỐC NHÂN VIỆT NAM VỚI TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG ÔNG BÀ TỔ TIÊN Nguyễn Trọng Bình (http://vibiwebsite.com/) I. Dẫn nhập Một trong những điều cao quý bày tỏ tinh thầ CƠ ĐỐC NHÂN VIỆT NAM VỚI TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG ÔNG BÀ TỔ TIÊN Nguyễn Trọng Bình (http://vibiwebsite.com/) I. Dẫn nhập Một trong những điều cao quý bày tỏ tinh thầ Rating:
You Are Here: Home » Mục Vụ » Bài viết phân tích » Cơ Đốc nhân với Tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên

Cơ Đốc nhân với Tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên




chame3

CƠ ĐỐC NHÂN VIỆT NAM VỚI TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG ÔNG BÀ TỔ TIÊN

Nguyễn Trọng Bình

(http://vibiwebsite.com/)

I. Dẫn nhập

Một trong những điều cao quý bày tỏ tinh thần Hiếu Đạo của dân tộc chúng ta đó là tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên. Theo đạo đức truyền thống, Hiếu được hiểu “là mối quan hệ cha trên, con dưới; suy rộng ra là đạo nghĩa của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên.[1] là sự tỏ lòng biết ơn, yêu kính cha mẹ lúc cha mẹ còn sống cũng như khi cha mẹ qua đời (qua việc làm tang lễ) và sống thành kính có trách nhiệm với tổ tông qua việc thờ cúng. Khi Tin Lành được truyền vào Việt Nam, ngay lập tức đã va đụng với một nền văn hóa hoàn toàn khác biệt, nhất là với tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên, một điều cao quý của dân tộc. Do vậy, việc trước tiên chúng ta cần hiểu về tín ngưỡng này để có thể tìm cách đưa lời Chúa đi vào lòng dân tộc.

II. Niềm tin của người Việt?

            A. Với tín ngưỡng này thì người Việt tin gì?

Điều đầu tiên, chúng ta cần phải khẳng định, người Việt chúng ta không bao giờ coi việc thờ cúng ông bà tổ tiên là một thứ “Tôn Giáo”. Mà hoàn toàn là từ tâm Hiếu mà ra. Việc Hiếu được bắt đầu từ khi có cộng đồng loài người. Với người Việt Nam, một trong những tấm gương thấm đượm tình phụ tử được ghi chép lại trong sách Lĩnh Nam Chích Quái, xảy ra vào thời Hùng Vương thứ ba, kể về chàng Chử Đồng Tử không nỡ chôn cất cha mình trần truồng khi cha qua đời, dù hai cha con chỉ còn có một cái khố để thay nhau mặc sau nạn cháy nhà. Cha của Chử Đồng Tử trước khi nhắm mắt đã nói: Ta chết thì chôn lộ thể cũng được, để cái khố lại cho con mặc kẻo xấu hổ.” Nhưng “Cha chết, người con không nỡ làm thế, cứ để cả khố mà chôn. Chử Đồng Tử bấy giờ thân hình trần truồng, đói rét khôn xiết…[2] Chử Đồng Tử thà chết chứ không xem nhẹ việc tang lễ cho cha mình. Việc chôn cất của người xưa đã thể hiện niềm tin và sự thành kính, đặc biệt là với người Việt. Người Việt không bao giờ chôn cất người đã khuất một cách qua loa nhưng rất cẩn trọng. Ngay từ thời xưa, do không muốn cha mẹ sống xa mình nên người xưa đã chôn cất cha mẹ tại nơi mình cư trú, không nỡ để cha mẹ sống ở thế giới bên kia mà không có đồ đạc đem theo nên chôn đồ đạc cùng cha mẹ. Ở thời Văn hóa Sơn Vi (Phú Thọ), đây là thời “hậu kỳ thời đại đồ đá cũ 25 đến 20 nghìn năm cách ngày nay[3]các nhà khảo cổ đã khai quật những ngôi mộ và thấy tư tưởng về sự chôn cất được thể hiện như sau: “người Sơn Vi tin tưởng về một thế giới bên kia, mà ở đó những người chết vẫn tiếp tục lao động. Chính vì vậy họ đã chôn theo công cụ bên cạnh người chết.[4] Vậy người Việt mình tin gì? Đó là tin có “một thế giới sau cái chết” và “hồn” của con người không chết đi nhưng tồn tại với con cháu. Với cha mẹ, ông bà tổ tiên thì con cháu phải có trách nhiệm để hồn luôn ở nơi mình sinh sống, ở trong nhà mình để có thể gần gũi, thưa chuyện, thờ cúng. Đây là mấu chốt của vấn đề.

1. Hồn, vía theo tín ngưỡng người Việt là gì?

            Điều thứ hai cần khẳng định, người Việt tin chắc vào “hồn” và “một thế giới sau cái chết” mà không cần giải thích cho niềm tin, không cần phân tích, chứng minh, dạy bảo và khi thực hành lễ thì làm tất cả những gì để lòng thanh thản không thất lễ với người đã khuất dù đó là người trong gia đình hay người ngoài. Khi nhắc đến “hồn”, người Việt không thể không nhắc đến “vía” vì hai thứ này là thứ khiến con người ta sống được. “Ba hồn bảy vía” là cụm từ mà chúng thường nghe nhiều nhất, khi có những người ở tình trạng vừa
chết, gần chết, hay bất tỉnh, với mong muốn cứu người sống lại, người thân sẽ lấy áo người chết trước kia thường mặc rồi hú đại loại như: ba hồn bảy vía anh Nguyễn Văn … thì về với vợ con…với người nữ thì gọi “ba hồn chín vía”. Ngày nay ở ngoài đường, chúng ta vẫn thường thấy người Việt “đốt vía” người này người nọ để xua đi cái xui xẻo của người xung quanh do quá “nặng vía”, “độc vía” để mong có thể bán được hàng. Người Việt cũng hay dùng từ “trộm vía” để tránh khen trẻ con cách trực tiếp. 
Vậy “hồn” là gì, “vía” là gì?  Giáo sư Nguyễn Lân Dũng cho rằng: “Theo kinh sách của Lão Tử, hồn là cái linh, thuộc vào phần khí của con người, phách (vía) là cái linh, phụ thuộc vào phần hình của con người.”[5]

Tổng hợp các quan điểm của cha Leopold Cadiere khi nghiên cứu về tín ngưỡng người Việt thì “hồn” là nguyên lý sự sống, những nguyên lý thượng đẳng của sự sống và có liên quan đến các từ như: hơi, hơi thở, khí, khí bốc lên[6] Còn “vía” là nguyên lý sự sống hạ đẳng có liên hệ mật thiết với những triển nở của thân thể [7], là “lối mở, lối cửa, cửa mở của thể xác[8] Với người Nam thì có “Thất Khiếu” (bảy “lối mở”), bảy vía: hai tai, hai mắt, hai lỗ mũi và miệng. Với nữ có thêm 2 vía là vú. Cũng có quan điểm khác 2
vía là: “hậu môn, lỗ sinh dục”[9]Còn với ba hồn: Sinh hồn, giác hồn, thần hồn. Cha Leopold Cadiere giải thích Sinh hồn (nguyên lý sự sống đơn giản), Giác hồn (nguyên lý sống thuộc về cảm giác), thần hồn (hay linh hồn), cây cỏ không có vía, hồn, loài vật cũng không có vía, hồn, chỉ có “giác hồn” mà thôi và tùy từng trường hợp mà có chuyện người Việt cho rằng một số cây cỏ, loài vật biến thành ma, quỷ, thần, về vấn đề này xin không bàn luận tại tiểu luận này.[10]

Theo Giáo sư Trần Ngọc Thêm, ba hồn là: “Tinh, Khí, Thần” và quyết định về tình trạng của con người. Nếu hồn “tinh” mất con người sẽ bị hôn mê, nếu mất thêm hồn “khí” thì không thể cử động và nếu mất thêm cả hồn “thần” thì con người chết hẳn[11].
           Theo quan điểm người Việt, linh hồn tiếp tục sống mãi mãi sau khi người ta qua đời. Người Việt thường không dùng từ “linh hồn” mà chỉ dùng từ “hồn” để mô tả cái phần thiêng liêng, phi vật chất, siêu hình ở trong mỗi con người và chỉ dùng từ này cho con người. Ngày nay, khi nói đến “hồn”, người Việt cũng không còn đặt nặng việc đến việc “ba hồn” hay mấy hồn… mà chỉ quan tâm đến hồn là “linh hồn” của ông bà, tổ tiên vẫn còn sống, đang hiện diện trong nhà với con cháu.

            2. Sau khi chết Hồn, vía đi đâu và hồn người đã khuất làm gì?

Theo Giáo sư Nguyễn Lân Dũng “Hồn là phần khinh thanh (nhẹ) phách (vía) là phần trọng trọc (nặng). Vì vậy, khi nguời ta chết, hồn bay về trời, còn phách (vía) thì tiêu xuống đất theo thể xác. Hồn thì tồn tại mãi mãi, phách và xác thì sẽ tiêu tan.[12]Còn Giáo sư Trần Ngọc Thêm cũng có tư tưởng “Khi chết thì hồn và vía đều lìa khỏi xác, nhưng vía gần với thể xác hơn (nặng hơn!) nên bay là là mặt đất rồi tiêu tan, còn hồn nhẹ hơn nên tiếp tục tồn tại trong một cõi khác.[13] Vậy “cõi khác”, “thế giới bên kia” là gì? Người Việt chúng ta chịu ảnh hưởng từ Trung Quốc nên vẫn quan niệm về thế giới biên kia là “Âm phủ”, “Cõi âm”, “Chín suối”… Tuy nhiên từ ngàn xưa, như đã chưng dẫn cách đây 20 nghìn năm, người Việt đã quan niệm về “một thế giới bên kia” là cõi dành cho người chết mà tại đó vẫn có sự sống, sinh hoạt bình thường, vẫn phải lao động, làm việc, vẫn phải cần những vật dụng cần thiết,.. và phải chu cấp, thỏa mãn nhu cầu cho họ qua sự thờ cúng… đây mới chính là tư tưởng, niềm tin của người Việt.

Mặt khác người Việt tin rằng sau khi chết người đã khuất còn có thêm nhiều quyền lực, khả năng siêu nhiên có thể phù hộ cho con cháu phát tài, có thể bảo vệ con cháu trước thế lực của “thế giới bên kia”, có thể trừng phạt, trách cứ, thậm chí “vật” chết con cháu vì tội lỗi trong quá khứ, hiện tại, tương lai nếu không bày tỏ sự “Hiếu Đạo” qua sự thờ cúng.

Ngoài ra với những “cô hồn” là hồn của những người chết: bị bỏ rơi, chết đói, bị sát hại, binh lính, chết non, chết chết sơ sinh, phá thai, chết oan, chết đuối, chết ngoài đường ngoài chợ, bị tan nạn giao thông, tử tù, bị thú dữ ăn thịt… và vô vàn những cô hồn không thể đếm được,.. người Việt nghĩ vẫn phải tỏ lòng thành kính vì họ không có người thân chu cấp, chăm sóc, vì sợ họ sẽ quấy rầy gia đình mình, mang đến điều dữ cho gia đình mình. Bởi thế mà ngay khi thấy một người bị chết do tai nạn giao thông ngoài đường thì ngay lập tức có một bát hương được thắp lên mà không cần đắn đo suy nghĩ. Và chính từ những vong linh lang thang này mà người Việt cho rằng ma quỷ phát sinh từ đây, có cả một đạo binh ma quỷ đông vô số mang đến mọi điều ác độc đến cho con người và ma có thể ban sự giàu có cho những kẻ xấu làm theo sự ác độc của chúng. Kẻ ác chết thì cũng thành ma, hồn ma cũng như hồn tốt cũng có thể nhập vào người đang sống,… Bài luận này cũng không đi chi tiết vào chủ đề Ma quỷ của người Việt nhưng cũng chính lý do vì sợ, mà người Việt ngoài việc thờ các “Thần” còn thờ cả ma quỷ. 

Đối với những gia đình khi biết ông bà, cha mẹ hấp hối, không thể sống thêm được nữa, thì con cháu sẽ chuẩn bị mọi thứ để có thể rước linh hồn của tổ tiên vào “hồn bạch”. “Hồn Bạch” là một dải “lụa bạch”, dài khoảng 7 khuỷu tay (cho nam), 9 khuỷu tay (cho nữ) rồi đặt lên ngực của tổ tiên cho đến khi đã khuất. Sau đó dùng “lụa bạch” này  kết thành hình nhân, có đầu, mình, tứ chi rồi đặt vào “Linh sàng”, “Linh tọa” đã chuẩn bị từ trước. “Linh sàng”[14] là chỗ cho vong linh người chết nằm như khi còn sống có đầy đủ chăn, gối, đệm được kê bên tay phải linh cữu, “Linh tọa” [15] là chỗ cho vong linh người chết ngồi như khi còn sống. Người Việt xem “hồn bạch” chính là linh hồn của ông bà tổ tiên. Sau một khoảng 100 ngày và tiếp đến là một loạt những nghi thức hiếu kính, cẩn trọng, đến lúc đưa táng, lấp huyệt mộ được một nửa “Hồn bạch” sẽ được thay thế bằng “Bài vị”, khi nét bút cuối cùng được hoàn thành thì kể từ đây vong linh tổ tiên đã nhập vào “bài vị”, con cháu sẽ mang bài vị vào từ đường nhà của con trưởng nam, để thờ cúng. Về mặt thể xác thì tổ tiên có thể xa gia đình nhưng về mặt linh hồn thì tổ tiên vẫn như đang có mặt trong nhà cùng con cháu. Theo phong tục cổ truyền thì có năm đời tống giỗ, đến 5 đời thì chôn thần chủ), làm giỗ cha mẹ (đời 2), ông bà (đời 3), cụ ông cụ bà (đời 4), kỵ (đời 5) , cao hơn kỵ thì gọi chung là tiên tổ thì không cúng giỗ nữa, mà rước chung vào một nhà để mỗi năm tế một lượt. [16] Trách nhiệm thờ cúng sẽ được giao cho con trai trưởng, cháu trưởng, chắt trưởng… các con thứ,.. phải đến nhà con trưởng và góp lễ cùng thờ cúng. Đến ngày nay thì khác, bài vị được thay bằng chân dung, để tránh bất tiện thì các con bất kể là trưởng hay thứ đều có thể tự lập bàn thờ để thờ cúng tại nhà mình. Kể cả trường hợp con gái đã đi làm dâu, trên bàn thờ vẫn có ảnh của bố chồng và bố đẻ mình. Mỗi năm vẫn thường về quê để thăm nhà thờ họ.

Bài viết này chỉ mô tả cách sơ lược về niềm tin của người Việt về tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên, để hiểu ngọn ngành chúng ta phải tìm hiểu thêm về văn hóa, phong tục tập quán của người Việt.

B.  Suy ngẫm và thực hành với niềm tin Cơ Đốc?

Giáo Sư Reimer đã chia sẻ lời khuyên của mình cho những nhà truyền giáo, những Cơ Đốc Nhân đang sống tại Việt Nam, cần phải đối diện “gặp gỡ” với những người thờ cúng ông bà tổ tiên, cần phải “giảng dạy” để “sửa lại” những cách hiểu sai về linh hồn trên “lẽ thật” và xây dựng “giá trị Cơ Đốc tích cực” với việc bày tỏ lòng hiếu kính với ông bà tổ tiên cho phù hợp với Kinh Thánh [17] làm như vậy mới có thể đưa lời Chúa gần gũi với người Việt. Chúng ta tin vào Kinh Thánh lời Chúa: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh.”(Sáng thế ký 2:7). Đây chính là điều mà chúng ta tin.

1. Linh hồn theo quan điểm Kinh Thánh

Theo quan điểm của Kinh Thánh, Chúa dựng nên con người gồm phần vật chấtphi vật chất. Ở tiểu luận này, chỉ xin mô tả ba phần quan trọng của con người: Thân, Hồn, Linh : rf’B’ Basar (Sáng thế ký 2:21): Thân, ứng với từ Hy lạp là: sw/ma Soma; vp,n< Nephesh (Sáng thế ký 2:7): Hồn, ứng với từ Hy lạp là: yuch, Psuche),  x;Wr Ruwach (Truyền đạo 12:7): Linh, ứng với từ Hy lạp là: pneu/ma Pneuma).

Tất cả những từ ngữ này đều có nhiều nghĩa, Tuy nhiên, chúng ta cần chú tâm vào Nephesh (yuch, Psuche), Ruwach (pneu/ma  Pneuma). Với Basar (sw/ma Soma), chúng ta hiểu cách đơn giản là: xác thịt (Flesh), thân thể (Body). Basar, phần vật chất  của loài người được Chúa dùng bụi đất nắn nên, Basar được dùng cả thảy 273 lần và có 104 lần dùng từ này cho thú vật và Kinh Thánh không dùng Basar để chỉ về xác chết[18]. Trong Sáng thế 2:7, chúng ta biết Chúa đã hà  hm’v’n> (neshamah)sanh khí, là những nguyên lý của sự sống, nó được sử dụng ở nhiều nghĩa: hơi thở của sự sống (chiếm đa số); linh (Gióp 34:14; Châm ngôn 20:27); linh hồn (Ê-sai 57:16 – KJV); luồng khí, gió; nguồn cảm hứng, linh cảm.

Từ Nephesh (yuch, Psuche): Hồn, “sanh linh” (Sáng 2:7), với nghĩa “sự sống đơn giản hạ đẳng” (được dùng cho cả người và loài vật: Sáng thế 1:20…, dùng khá nhiều); Hồn (Soul, rất nhiều); thân thể (Body, xác chết, Dân số 6:6); sinh vật (sự sống của sinh vật có máu, Lê-vi 17:11); người; tấm lòng; dùng như đại từ nhân xưng để chỉ về chính mình, người khác (Sáng 12:5); “con người” bên trong con người; thuộc về hay ra bởi hơi thở; sống nhờ bởi sinh khí nhận được… Nephesh (Hồn) là phần phi vật chất của con người. Từ  x;Wr Ruwach (pneu/ma Pneuma), được dùng chủ yếu với nghĩa là: Linh (Spirit), Dân số 27:16, Thi Thiên 51:10… ; tâm thần; hơi thở, khí (với nghĩa hơi, khí của sự sống đơn giản hạ đẳng thì được dùng cho cả loài vật đặc biệt ở Truyền Đạo 3:19, 21); gió; luồng khí; linh của con người; linh của Chúa (Sáng 1:2),… Một điều đặc biệt, người ta không hề dùng Basar cho Chúa, ít dùng từ Nephesh để chỉ về Chúa. Nhưng từ Ruawch xuất hiện 389 lần trong Kinh Thánh thì đến 136 lần chỉ về Ruawch của Chúa. Nhắc đến Ruwach là nhắc quan hệ con người với Chúa trong góc cạnh cao quý, thiêng liêng.[19] Đây là phần phi vật chất của con người.

Như vậy, qua Kinh Thánh chúng ta thấy rằng cái Basar (thể xác) của chúng ta lúc ban đầu chỉ đơn giản gần như chỉ hơn một cục đất, có hình người: đầu và tứ chi, bên trong thì có thịt bắp, mạch, não… nhưng hoàn toàn không có sự sống, cũng chính vì vậy, không ai bảo “cái không bao giờ có sự sống” là chết cả. Nó có sống bao giờ đâu mà chết. Đó là lý do Kinh Thánh không dùng từ Basar để chỉ về “xác” chết. Nhưng dùng từ Nephesh (Hồn) để nói về cái thân xác chết (Dân số 6:6). Vì Kinh Thánh muốn chỉ cái “Hồn sống” (cái sự sống) bây giờ không còn ở cái “Thân xác” nên cái thân xác dần trở về trạng thái ban đầu là chỉ hơn cục đất, không có sự sống và gọi là cái “Hồn chết”. Nephesh “Hồn sống” không còn ở trong Thân xác nữa, đây được coi là sự chết lần thứ nhất. “Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét.” (Hê-bơ-rơ 9:27). Vậy cái Hồn sống này làm lên cái “con người” của loài người.

Khi Đức Chúa Trời thổi Neshamah (Sanh khí) của Ngài vào Basar (Thân xác) của loài người đã mang theo cái Nephesh (Hồn sống) sống động. Nephesh không phải là cái loài người có hay sở hữu, mà là cái “toàn bộ con người phi vật chất, siêu hình” (cái nguyên lý sống thượng đẳng) được Chúa thổi vào. Cái “toàn bộ con người phi vật chất, siêu hình” này: có lý trí, trí khôn, cảm xúc, ước muốn, cảm nhận, đón nhận các thông tin, có sự suy nghĩ, trí nhớ… Tại Lê-vi 17:11 thì nói rõ cái Nephesh (Hồn) của Basar (Thân xác) nằm ở trong huyết, đây là lý do chúng ta không được ăn huyết vì trong huyết có “sinh mạng”, có ”sự sống”, “Tiếng của máu em ngươi từ dưới đất kêu thấu đến ta” (Sáng 4:10b), huyết lại được dùng để chuộc tội do chính Nephesh mình gây ra (Cựu Ước). Nephesh tiếp tục tồn tại sau kể cả khi người ta chết lần thứ nhất.

Cũng như vậy, khi Đức Chúa Trời thổi Neshamah (Sanh khí, nguyên lý sống thượng đẳng) của Ngài vào Basar (Thân xác) của loài người đã không chỉ mang theo cái Nephesh (Hồn sống), mà mang theo “một phần thiêng liêng” mà tại đó Đức Chúa Trời và con
người có thể liên hệ với nhau, đây là phần thiêng liêng cao quý của con người,đó là:
Ruwach (pneu/ma Pneuma): Linh. Người Việt chúng ta vẫn thường sử dụng câu “Thiên sinh vạn vật duy nhân tối linh” có nghĩa là chỉ duy có con người là có Linh. Linh là cái kết nối với Đức Chúa Trời. Giăng 4:24 chép: Vì Đức Chúa Trời là một pneu/ma Pneuma (Linh) nên ai thờ phượng Ngài cũng phải thờ phượng bằng pneu/ma Pneuma (Linh). Nhờ cái Linh mà con người ở bất kỳ đâu trên thế giới, trong một khoảng khắc nào đó, cũng sẽ hướng tới một sự suy tư đến Đấng Tạo Hóa, thần thánh. Linh của con người (Nhân Linh) cũng chính là thứ mà ma quỷ thèm muốn, Tà linh luôn muốn “thông linh” với Nhân Linh để chiếm hữu cả con người. Còn chúng ta thì thông linh với Thánh Linh. Như vậy để cho cái
Basar loài người “sống động” có thì Chúa đã phải thổi Nephesh vào và để cho cái Nephesh trở nên thực sự sống động trọn vẹn có sự kết nối với Đức Chúa Trời, thì đồng thời Chúa đã phải thổi
Ruwach để con người toàn vẹn có thể kết nối với Ngài.  Do vậy Con người trở nên sống động trọn vẹn nhờ Thân, Hồn, Linh. Ba cái này không thể tách rời nhau: Vì không có Thân xác thì Hồn, Linh không có chỗ cư trú, Không có Hồn, thì Thân xác chết I Các Vua 17:22. Không có Linh thì Thân cũng chết Gia-cơ 2:26 chép: “Xác” (rf’B’ Basar – sw/ma Soma: body) không có “Linh” (Spirit, pneu/ma Pneuma –  x;Wr Ruwach)thì chết – bản dịch cũ dịch là “hồn” không chính xác.

Các sách Phúc Âm không ghi Chúa Giê-xu trút “hồn” mà trút “linh” (Spirit), cũng như vậy với Ê-tiên (Công vụ7:59). Do đó, chính cái Spirit làm cho cái Soul thực sự “thiêng liêng”. Nhưng việc quyết định cái Spirit (Linh) thông linh với ai thì không do Spirit quyết định dù Spirit của con người là trung tâm của nhiều đặc điểm, cảm xúc, hoạt động khác nhau: suy ngẫm, hồi tưởng, khiêm nhường, ăn năn hối lỗi, kiêu căng, ghen tỵ, bối rối.[20] Nhưng sự lựa chọn này là ý chí tự do ở trong Tấm Lòng (nơi Đức Chúa Trời ngự, muốn ngự) của Soul (Hồn) lựa chọn, do vậy Hồn mới là tiêu điểm quan trọng của sự cứu chuộc và tăng trưởng thuộc linh. Còn “Linh” là nơi mà tại đó diễn ra sự thăng hoa của sự thờ phượng, liên hệ, kết nối với Chúa, nơi Chúa thể hiện sự thần cảm, xuất thần, Chúa chiếm hữu, ThánhLinh cảm bày tỏ quyền năng kinh ngạc, bày tỏ sự mạc khải, sự ban cho khác như: tâm thần mạnh mẽ, nói tiên tri, tiếng lạ, chữa lành, làm dấu lạ… Ruwach (Spirit, Linh), “Nơi thể hiện quyền năng thần thánh,…trong đó con người dường như bị đưa ra khỏi bản thân họ – không phải là sự trào dâng sức sống, nhưng là sự chiếm hữu của một năng lực siêu nhiên. Đặc biệt là với các nhà lãnh đạo thần cảm trong thời kỳ đầu tiên (Quan 3:10; 6:34; 11:29; 13:25; 14:6, 19; 15:14; 1Sa 11:6) và các tiên tri thuở xưa –  cũng cùng một Ruwach, thần thánh đem đến tình trạng xuất thần và nói tiên tri. (Dân 24:2; 1Sa10:6, 10; 19:20,23tt.)”[21]đây có thể coi là giây phút, là nơi thiêng liêng nhất, đầm ấm của Cha và con. Trong thân thể có huyết khí. Thân, Hồn, Linh hiệp một (phần vật chất và phi vật chất). Hồn, Linh được dùng đồng nhất với nhau “Lu-ca 1:46-47… Những thành phần cơ bản của con người được gọi tên là hồn và thân trong Ma-thi-ơ 6:25 và 10:28 nhưng lại được gọi là linh và thân trong Truyền Đạo 12:7 và 1 Cô-rinh-tô 5:3-5. Sự chết được mô tả như trút bỏ hồn (Sáng thế ký 35:18; 1 Vua 17:21, Công vụ 15:26) và trút bỏ linh (Thi Thiên 31:5; Lu-ca 23:46).Kinh Thánh có khi gọi Linh bị bối rối (Sáng 41:8, Giăng 13:21) và khi thì hồn bị bối rối (Thi Thiên 42:6, Giăng 12:27)”[22].

Mặt khác, Kinh Thánh còn ghi nhận nhiều nơi đồng nhất hóa Neshamah (Sinh Khí, do Đức Chúa Trời hà hơi, Sáng 2:7) với Ruwach (Spirit, Linh) như: Sáng thế 7:22; Ê-sai 42:5; 57:16; Gióp 34, 14).[23] Điều này càng cho thấy sự kết nối Ruwach của Đức Chúa Trời với Ruwach của con người, càng cho thấy việc chúng ta quá phân tích: Thân, Hồn, Linh chỉ là để khẳng định chúng khác nhau, không phải là một nhưng hiệp một dính đến nỗi không thể tách cái này với cái kia. Vì vậy, khi ta nói yêu Chúa hết cả “Hồn” yuch, Psuche,  (Mác 12:30, bản dịch cũ là “linh hồn”) thì chúng ta còn phải hiểu thêm là yêu hết với cả sự kết nối, kết dính không thể tách dời của “Hồn” với “Linh” tới Chúa để dẫn đến sự đầy dẫy Thần của Chúa. Và sự kết dính của “Hồn” với “Thân” bởi “Thân thể” của Cơ Đốc Nhân là “Đền thờ của Đức Thánh Linh” (I Cô-rinh-tô 6:19). Không có gì tách nổi Thân, Hồn, Linh. Lời Chúa “sống” và “linh nghiệm”, sắc hơn gươm 2 lưỡi (Hê-bơ-rơ 4:12) không phải là chia cắt Hồn, Linh, Cốt Tủy làm 2 phần nhưng nói đến việc Lời Chúa có khả năng dò xét, “phân vùng” mọi thứ của con người dù chúng dính chặt với nhau để dò xét tất cả mọi sự kể cả tư tưởng sâu kín nhất trong lòng người.

Có thể nói tóm gọn về loài người khi được Chúa yêu một cách đặc biệt bởi trong các tạo vật chỉ có loài người được tạo dựng theo “Hình Tượng”của Đức Chúa Trời (Sáng 1:26) vì vậy mang trong mình những “nguyên lý sống thượng đẳng thiêng liêng”.
Một trong những biểu hiện của tình yêu của Chúa là Chúa Giê-xu đã giáng trần để mang lấy hình hài con người, trở nên con người 100%, những vừa cũng là Đức Chúa Trời 100%, Ngài đến thế gian để cứu con người khỏi hình phạt của tội lỗi đó là sự chết lần thứ hai.

Như đã trình bày, Hồn chính là tiêu điểm của sự cứu chuộc. “Nầy, mọi linh hồn (Nephesh, Hồn) đều thuộc về ta; ‘Nephesh’ (Hồn) của cha cũng như ‘Nephesh’ (Hồn) của con, đều thuộc về ta; Nephesh (Hồn) nào phạm tội thì sẽ chết.”, “…Con sẽ không mang sự gian ác của cha, và cha không mang sự gian ác của con.” (Ê-xê-chi-ên 18:4,20).

Vì con người là những hữu thể vừa thuộc linh vừa thuộc thể do vậy Nephesh (Hồn) ở đâu thì Spirit (Linh) cũng ở đó. Kinh Thánh chỉ ra mọi người đều đã phạm tội (Rô-ma 3:23), có nghĩa tất cả các Nephesh (Hồn) đều phạm tội dù nhỏ hay lớn: Suy đồi về tình dục bỉ ổi, đồng tính luyến ái, “…tâm trí hư hỏng để làm những điều trái đạo đức, xấu xa, tham lam, gian ác, đầy lòng ganh ghét, sát nhân, tranh cãi, man trá, hiểm độc, nói hành, gièm chê, thù ghét, xấc xược, kiêu căng, khoác lác, khéo bày việc ác, không vâng phục cha mẹ, u mê, thất tín, vô tâm, bất nhân. ..chẳng những họ làm những điều đó mà thôi, nhưng còn tán thành cho những kẻ khác làm nữa.” (Ro-ma 1:26-32). Và ai cũng phải chết một lần rồi chịu sự đoán xét. Có 2 nơi dành cho Nephesh (Hồn): “Rồi những kẻ nầy sẽ vào hình phạt đời đời, còn những người công bình sẽ vào sự sống đời đời.” (Ma-thi-ơ 25:46). Tội lỗi là thứ mà con người không thể lấy gì để có thể trả được. Nhưng Đức Chúa Trời vì yêu con người đã hoạch định chương trình cứu chuộc cho tội nhân qua Chúa Giê-xu. Chúa Giê-xu đã giáng thế để gánh mọi điều kinh tởm của tất cả các Nephesh trên thập tự giá, Ngài chịu chết, sống lại, nắm quyền xét đoán và sẽ trở lại để kết thúc cái ác. Những ai đặt đức tin nơi Chúa Giê-xu thì được sự sống đời đời (Giăng 3:16), được ghi vào sách sự sống, không bị hình phạt sự chết thứ 2 là Hồ Lửa đời đời không hề tắt (Khải Huyền 20:14). Khi Chúa Giê-xu trở lại những người tin Chúa sẽ được sống lại, Khải Huyền 20:4 mô tả các Nephesh (Hồn) giữ vững đức tin nơi Chúa được phục sinh và trị vì 1000 năm bình an với Chúa, đó là sự sống lại lần thứ nhất, sau đó sẽ là trời mới, đất mới và sự sống đời đời.

Còn tất cả những người chết không tin Chúa (Nephesh tội lỗi) sẽ sống lại sau 1000 năm bình an và đều đứng trước Ngai Lớn và Trắng của Chúa, các người chết đều bị xét đoán về những việc mình làm trong quá khứ, những tội lỗi đều được ghi vào các sách, những người chết này không có tên trong Sách Sự Sống sẽ cùng với Sa-tan, ma quỷ mà bị quăng vào Hồ Lửa đời đời. Đây là sự chết lần thứ 2. Đây là sự chết kinh khủng cho những Nephesh (Hồn) tội lỗi. Mãi mãi xa cách với Đức Chúa Trời trong sự đau đớn.

Ryrie cho rằng trong thời Cựu Ước, các thánh đồ khi chết sẽ đi thẳng vào sự hiện diện của Chúa.[24] Còn trong thời Tân Ước với những người tin Chúa sau cái chết sẽ đến một nơi gọi là Ba-ra-đi (Lu-ca:23:43, một nơi tạm vui vẻ) cho những Nephesh (Hồn) thuộc về Chúa chờ đợi ngày Chúa trở lại. Những người không tin Chúa sau cái chết sẽ bị giam cầm trong Âm Phủ (Hades), nơi của sự tối tăm, khóc lóc để chờ đợi ngày “sống lại để bị phán xét”. Ngoài ra còn có cách lý giải về “Thuyết hai ngăn Âm Phủ” trong đó có ngăn “Địa ngục” (Gehenna) dành cho Nephesh (Hồn) tội lỗi, ngăn “Ba-ra-đi” cho những người thuộc về Chúa.[25]

Đoạn I Cô-rinh-tô 15, cho chúng ta một bức tranh về sự phục sinh, đặc biệt là thân thể. Trong khi người không tin Chúa thì sẽ sống lại với thân thể phù hợp với sự phán xét đời đời nơi hồ lửa còn những người tin Chúa được sống lại với thân thể được Chúa biến hóa, đổi mới thiêng liêng đầy vinh hiển. Vậy cả Thân, Hồn, Linh đều được nên thánh trọn vẹn bởi Chúa. Với phân đoạn Kinh Thánh trên chúng ta có thể khẳng định. Cho dù thân thể của một người Cơ Đốc bị thiêu, chỉ còn lại tro và thậm chí bị rắc trên sông, cá nuốt đi nữa thì đến ngày Chúa Giê-xu trở lại Ngài cũng phục hồi lại thân thể cho những người tin Ngài. Con người sau này ở Thiên Đàng sẽ có phần giống với thiên sứ là không sinh con (Ma-thi-ơ 22:30) nhưng lúc này sẽ cao cấp hơn thiên sứ (I Cô-rinh-tô 6:3).

 Có thể thấy rằng, trong các tài liệu viết về Thân, Hồn, Linh của con người, không có sách nào trả lời chi tiết, đầy đủ như Kinh Thánh về chung cuộc của con người. Chúng ta cần thấy rằng niềm tin thờ cúng ông bà tổ tiên của dân tộc ta, vì xuất phát từ tâm Hiếu, nên dân tộc chúng ta luôn muốn Ông bà bố mẹ sẽ ở trong nhà mình cùng con cháu. Vì vậy, cách nhìn về cuộc sống sau cái chết đã thiên lệch theo quan điểm chủ quan của mỗi gia đình và đã dẫn đến sự thực hành: thờ cúng, gọi hồn,… Trong khi đó chúng ta biết rằng ma quỷ có thể biến hóa thành những ai mà chúng muốn, thậm chí là cả thiên sứ (II Cô-rinh-tô 11:14-15). Chúng có thể biến thành hồn của những người thân trong gia đình chúng ta. Chúng lại biết mọi chuyện về chính chúng ta, từng thành viên trong gia đình chúng ta, kể cả những người đã khuất. Chúng biết những chuyện trong quá khứ của loài người. Nên chúng ta không còn lạ gì khi chứng kiến những cảnh thông linh trong các buổi gọi hồn là những cuộc thông linh tiềm ẩn đầy nguy hiểm vì ma quỷ luôn muốn chiếm hữu Linh của con người.

chame

            3. Thực hành niềm tin Cơ Đốc

Những điểm cần khai thác: Chúng ta thấy Người Việt tin rằng Đấng Tạo Hóa tạo ra phần Linh của con người, Linh Hồn chỉ có ở con người  (Thiên sinh vạn vật, duy nhân tối linh). “Thư Kinh : Duy nhân, vạn vật chi linh  (Thái thệ thượng  ) Chỉ người là bậc tinh anh trên hết muôn loài.”[26] Như vậy, người Việt không tin rằng tổ tiên khi qua đời sẽ đầu thai thành “súc sinh” (loài súc vật). Trong con người có “Linh Khí” (靈氣) của Đấng Tạo Hóa: “là cái khí thiêng liêng, Năng lực
nhiệm mầu, kỳ diệu, hơi thở thần linh…”
[27] Đây chính là cái Ruwach mà chúng ta đã nhắc đến. Mặt khác, Chúa dạy chúng ta về Đạo Hiếu một cách cẩn trọng cùng với đó là giá trị về tình yêu Cơ Đốc là điều hoàn toàn gần gũi với người Việt Nam nếu như không muốn nói là “điều quyết định” để thay đổi “ngộ nhận bỏ ông bỏ bà” khỏi lòng dân tộc.

Vậy điều chúng ta cần làm là gì? Chắc chắn chúng ta sẽ không vừa thắp hương thờ cúng ông bà bố mẹ, Tổ Tiên và vừa thờ phụng Chúa. Vì chính người Công Giáo đã áp dụng và chính họ đã phải khẳng định rằng: “Năm 1964, Tòa Thánh đã giải tỏa lệnh cấm về việc thờ cúng Tổ Tiên nhưng mãi đến nay, nửa thế kỷ trôi qua, thành kiến bỏ ông bỏ bà vẫn chưa được gột sạch[28]. Khi người Công Giáo mang Tin Mừng đến nước ta, họ đã phải đối diện điều này trước, những người Tin Lành chúng ta đến sau vì vậy cũng bị ảnh hưởng bởi sự ngô nhận: “Đạo bỏ ông bỏ bà”. Việc hóa giải điều này là trách nhiệm của cả người Tin Lành và Công Giáo. Để hóa giải điều này, điều trước tiên chúng ta phải xây dựng mối quan hệ, thân thiện, yêu thương với mọi người dân Việt tại nơi mình sinh sống. Vì chỉ có tình yêu mới lay động được trái tim của họ. Phải quan tâm, lắng nghe, phải biết chấp nhận, biết chia sẻ niềm tin, biết khuyên dạy, biết can dự và khích lệ mọi người.  Điều tiếp theo chúng ta cần quan tâm đến dòng họ của mình. Gần đây người Tin Lành chúng ta cũng đang học tập từ những người Công Giáo về việc truy tìm lại cội nguồn dòng họ của mình, lập gia phả,… đây là việc khó khăn cho cả người lương lẫn giáo nhưng chúng ta hãy cầu nguyện xin Chúa soi sáng và giúp đỡ.  Tìm đến những người Trưởng Tộc và tham gia vào những việc quan tâm đến họ hàng. Nếu chúng ta có phải thực hành nghi lễ nào ở Từ Đường, Bàn Thờ,… thì trước mỗi lần như vậy chúng ta phải cầu nguyện và chúng ta không dùng “hương” nhưng thay bằng “nến”, “hoa”. Chúng ta luôn phải ghi nhớ đặt mọi sự trên nền tảng Kinh Thánh. Chúng ta cầu nguyện với Chúa chứ không nói chuyện với người đã khuất.  

Việc quan trọng là nối lại được tình thân với cả dòng họ, vì một trong những tư tưởng đẹp của người Việt Nam đó là tư tưởng “Về cội”, chính vì vậy khi chúng ta thực hành việc lập gia phả là bước đệm cho công việc đưa họ hàng, con cháu về với cội nguồn vĩnh cửu, là Đức Chúa Trời, Cha chung của mọi người. Khi kết nối với họ hàng cần ghi chép lại lịch sử, chép lại những điều tốt của các chi, những điều dòng họ có công với làng xã, thành phố,.. Và tích cực vận động mọi người trong gia đình, họ hàng tham gia vào các hoạt động xã hội. Đôi lúc chúng ta chưa cần phải nói về Chúa ngay vì nhiều khi chúng ta làm công tác xã hội, nhưng chúng ta không làm với tình yêu của Chúa dành cho họ mà chúng ta lại làm để mục đích là thi hành cho xong “nhiệm vụ nói về Chúa”. Và sau này chúng ta quay trở lại để làm công tác xã hội, họ sẽ nghĩ chúng ta dụ dỗ họ theo Đạo nên mới tham gia công tác xã hội. Vì thế chúng ta cần cẩn trọng.

Có thể nói sau giai đoạn Gia Phả, là giai đoạn Tập Tục sẽ vô cùng khó khăn cho chúng ta vì vậy Sự bày tỏ “Hiếu Đạo” trong gia đình cần được quan tâm sâu sắc. Gia đình cần ôm chặt lấy nhau bởi Tình yêu vô điều kiện, vì “Tình yêu thương hay nhịn nhục, nhân từ; tình yêu thương chẳng ghen tị, chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu ngạo, chẳng làm điều trái phép, chẳng kiếm tư lợi, chẳng nóng giận, chẳng nghi ngờ sự dữ, chẳng vui về điều không công bình, nhưng vui trong lẽ thật. Tình yêu thương hay dung thứ mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự. Tình yêu thương chẳng hề hư mất bao giờ.” (I Cô-rinh-tô 13:4-8). Các Mục Sư đã khởi xướng việc bày tỏ Hiếu Đạo với những người đã khuất, tổ chức những đám giỗ theo cách của người Tin Lành và sử dụng với tên gọi khác là Lễ kỷ niệm, tưởng nhớ đến ông bà Tổ Tiên. Việc thực hành vấn đề này không được cứng nhắc, phải sâu đậm trong tình cảm nhưng phải hoàn toàn trên nền tảng Kinh Thánh. Nên cần có Mục Sư, các Thầy Truyền Đạo hướng dẫn cách làm lễ để tránh những điều đáng tiếc xảy ra, chuẩn bị những gì, để có thể cho buổi lễ có sự dẫn dắt của Chúa. Con cháu cần nhắc lại những tấm gương yêu thương của Ông bà, bố mẹ. Và bày tỏ tình cảm trong sự cầu nguyện cho thế hệ con cháu, chúng ta có thể làm nhiều món ăn như thường lệ, nấu những món ăn ngày xưa ông bà thích, xong không cúng và giải thích về cách chúng ta tưởng niệm theo nghi thức Tin Lành nên chúng ta cũng hướng bạn bè trong sự tưởng niệm qua lời kể, hát thánh ca và cầu nguyện cho con cháu sẽ học tập được tấm gương yêu thương của Tổ Tiên mình. 

Có một số nguyên tắc chung khi thực hành bất kỳ việc Hiếu nào đó là luôn cầu nguyện và nhờ anh em mình cầu thay
trước
, không sử dụng hương (nhang), không nói chuyện với người đã khuất, không tham gia các buổi gọi hồn, cầu bóng, lên đồng, không được cực đoan hay tỏ thái độ bất kính. Một số điều thường gặp trong cuộc sống:

Đối với việc tham dự tang lễ của người khác: Luôn giải thích trước với người phụ lễ là chúng ta là người Tin Lành nên muốn cử hành viếng theo cách của người Tin Lành. Có thể đeo một cây thánh giá trước ngực đủ để người ta nhìn thấy và biết mình là người có đạo nên sẽ có cách cử hành khác. Không đi một mình, luôn chuẩn bị nến (nhỏ), bật lửa, hoa, phong bì đựng tiền cho tang quyến, gia đình,… một cách cẩn trọng, lịch sự và mang theo mình. Đặt nến, hoa, phong bì đựng tiền lên chỗ cần thiết, có thể ghi một lời an ủi, chúc phước, câu Kinh Thánh lên phong bì tiền, “tuyệt đối không ghi Kính viếng hương hồn bác”, mà ghi “Thành kính phân ưu cùng gia đình”. Khi đứng viếng, tưởng niệm phải hoàn toàn đặt Linh Hồn mình hướng tới Chúa và cầu nguyện với Đức Chúa Trời thương xót và ở cùng tang quyến, sau đó mới đi vòng qua quan tài để nhìn mặt người đã khuất lần cuối. Hãy luôn nhớ tự chuẩn bị nến, hoa, bật lửa trước… để tránh tự gây khó vì người phụ lễ thường đưa hương (nhang) cho mỗi người đến thắp. Trong trường hợp quên, cần khéo léo ứng xử khi người ta đưa hương (nhang) như sau: tuyệt đối không vứt hương ra chỗ khác vì có rất nhiều người chứng kiến, vô cùng phản cảm. Khi phải trao trả lại hương (nhang) cho người phụ lễ, cần kính cẩn, cúi đầu để hương (nhang) lên hai lòng bàn tay và trao cho người phụ lễ và giải thích chúng ta muốn cử hành theo nghi lễ Tin Lành, Nếu người ta trao cho mình cả bó hương mà vẫn chưa bóc bao thì cầm nguyên bó hương đó theo mình, không được đốt, cầm bó hương bằng tay không thuận (tay trái), cầu nguyện, rồi cầm bó hương bên tay trái đó tiếp tục đi vòng qua linh cữu, tay thuận (tay phải) chúng ta sẽ dùng để thể hiện những động tác an ủi với gia đình tang quyến… Với trường hợp người ta đưa cho mình một cây nhang đã được đốt thì chúng ta cần từ chối và giải thích.  Tóm lại không được phép quên mang theo nến, bật lửa, bó hoa, phong bì… phù hợp và PHẢI luôn giải thích trước với người phụ lễ là chúng ta là người Tin Lành nên muốn cử hành viếng theo nghi lễ Tin Lành.

Đối với việc tang lễ của nhà mình: Trường hợp tín hữu là con trưởng, tức sẽ phải chịu rất nhiều sự bối rối. Nếu người đã khuất chưa tin Chúa, cần gặp Mục Sư để trao đổi cách thực hành lễ, càng chi tiết bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Một điểm lợi khi là con trưởng thì có toàn quyền quyết định nên trường hợp này không quá khó. Nếu không có tiếng nói trong gia đình dòng họ (hoặc là con thứ) thì cần giải thích cho dòng họ về cá nhân và sẽ chuẩn bị mọi thứ để bày tỏ sự Hiếu kính theo cách Tin Lành. Lúc này cần thêm tín hữu cùng giúp đỡ tang lễ và phối hợp với dòng họ để biết tất cả các nghi thức phải làm. Riêng với bản thân mình thì luôn luôn nhớ không được dùng hương mà dùng nến, hoa cho tất cả các tục hiếu kính. Khi người khác khấn, thì chúng ta đứng bên cạnh cầu nguyện với Chúa. Không được tách rời. Phải chu toàn tang lễ một cách chu đáo, cẩn thận.

 – Đối với việc hành lễ, chuẩn bị ở Từ Đường, Bàn Thờ: Một trong những cách nghĩ phổ biến của người Tin Lành là khi nhìn thấy Bàn Thờ là nói ngay: “ma quỷ”, trong khi với bố mẹ,.. thì Bàn Thờ lại vô cùng linh thiêng, quý trọng… các tín hữu thường có phản ứng là ghê, sợ, xa lánh. Các câu hỏi chúng ta thường gặp: Tôi có được giúp bố mẹ làm đồ ăn cho bố mẹ cúng không?” Câu trả lời là: nếu bố mẹ muốn thì nên làm, vì Chúa ban cho chúng ta một điều luật đầu tiên đối với bổn phận với con người là hiếu kính cha mẹ mình do vậy chúng ta luôn phải có sự vâng phục bố mẹ, giúp đỡ bố mẹ đỡ vất vả… việc chúng ta là không thắp hương, cúng, thông linh nói chuyện với người đã khuất, NHƯNG cầu nguyện với Đức Chúa Trời, còn việc cúng lại hoàn toàn là việc của bố mẹ. Với người vợ thì hãy khéo nói cùng chồng rằng việc cúng là việc của chồng, của người con trai trưởng, thứ,… . Cũng như vậy có câu hỏi rằng: “Tôi có được phép lau bàn thờ cho bố mẹ, bê đồ cho bố mẹ hay đứng cùng bố mẹ khi bố mẹ hành lễ không?” Câu trả lời là: Nếu bố mẹ muốn thì Nên làm. Sách II Các Vua 5:1-19 cho chúng ta một nguyên tắc đúng đắn. Đức Chúa Trời nhìn vào tấm lòng con người và thấy người đó chỉ thờ phụng Ngài mà thôi đây là điều quan trọng. Khi Na-a-man bị phung và nghe lời khuyên đi tắm bảy lần ở sông Giô-đanh thì được lành bệnh. Sau đó ông gặp Tiên tri Ê-li-sê và thể hiện niềm tin chỉ thờ phụng một mình Đức Chúa Trời của Israel mà thôi rồi ông xin một ít đất ở Israel như một “dấu hiệu” cho việc sẽ không thờ thần nào khác. Ông bày tỏ nỗi lòng mình với Tiên tri Ê-li-sê: “Nếu ngài không chịu nhận vật gì, vậy thôi xin ngài cho tôi tớ ngài mang về một ít đất đủ cho hai con  lừa chở được. Vì tôi tớ ngài sẽ không dâng của lễ thiêu hay sinh tế cho thần nào khác ngoại trừ một mình CHÚA. Chỉ xin CHÚA tha thứ cho tôi tớ ngài một điều, đó là khi chủ tôi đi vào đền của Rim-môn để thờ lạy, ông ấy hay vịn vào cánh tay tôi để quỳ xuống, vì thế tôi bị bắt phải quỳ theo trong đền của Rim-môn. Vậy khi tôi phải quỳ xuống trong đền của Rim-môn, nguyện CHÚA tha thứ cho tôi tớ ngài việc ấy. Ê-li-sê nói với ông: ‘Hãy đi bình an.’(II Các Vua 5:17-19). Như vậy, khi chúng ta làm bất kỳ việc Hiếu nào, phải luôn có một dấu hiệu bày tỏ niềm tin của mình, “đất” mà Na-a-man dùng thời Cựu Ước là dấu hiệu riêng của ông để bày tỏ ông là người tin Chúa. Cũng giống chúng ta thời nay dùng “nến”, “hoa” cũng là dấu hiệu để bày tỏ chúng ta là người Tin Lành,  chúng ta không dùng hương và thờ ai khác ngoài Chúa. Còn lại chúng ta hãy khéo léo trong cách ứng xử làm để danh Chúa không bị xúc phạm. Việc tiên tri Ê-li-sê nói với Na-a-man “Hãy đi Bình an”, từ “Bình an” (Shalom) đã mô tả sự tha thứ, thông cảm của Chúa cho Na-a-man. Vì đây là điều nói từ miệng của “Tiên tri của Chúa” và từ “Shalom” (Bình an) luôn được dùng để nói đến sự an toàn trong mối quan hệ với Đức Chúa Trời. Như vậy chẳng có gì sai khi chúng ta lau bàn thờ, hay khi bố mẹ, hoặc người thân đứng khấn chúng ta đứng bên cạnh cầu nguyện với Chúa thương xót gia đình mình… Không có gì sai cả. Đối với cá nhân tôi, bàn thờ là vật vô tri vô giác, được làm bằng gỗ, sắt, kính,… nên chúng ta không để nó làm mình quá sợ hãi. Tuy nhiên khi chúng ta xác định thi hành những việc Hiếu này thì luôn luôn cần sự cầu nguyện của chính mình và mọi người vì chúng ta đang đứng giữa một ranh giới mong manh tiềm ẩn của sự nguy hiểm. Ngoài ra ứng với mỗi phong tục, tập quán của người Việt Nam thì cách thực hành niềm tin Cơ Đốc cũng khác nhau. Do vậy phải khích lệ con cháu tìm hiểu về phong tục, tập quán bản sắc của dân tộc.

Để tiến đến giai đoạn Gây Dựng những người “đồng tâm tình”, hãy hiểu như chúng ta sẽ đào tạo những Ti-mô-thê trong dòng họ của mình về vấn đề kết nối dòng họ kể cả là những chuyến đi chơi dã ngoại cũng cần lưu lại, thành đĩa CD để có thể kéo mọi người lại với nhau. Xây dựng ban liên lạc của dòng họ và bắt đầu bày tỏ niềm tin của mình, cũng giải thích về những vấn đề mê tín đang diễn ra tại xã hội ngày nay, và hướng dẫn mọi người tập tành cầu khấn đến một Đấng Chân Thần là Chúa Giê-xu và nói về Chúa với từng chủ đề một. Không gấp gáp vội vã nhưng hết sức nhịn nhục, khiêm nhường. Giúp đỡ những người trong dòng họ đang gặp khó khăn. Sự cầu nguyện cho gia đình họ tộc là điều rất quan trọng, không thể thiếu trong nếp sống mỗi ngày.

4. Đề xuất

Công tác giáo dục, thực hiện niềm tin Cơ Đốc với sự tưởng nhớ Ông bà Tổ tiên phải được diễn ra trong sự chi tiết, sâu sắc, cẩn thận cho: cá nhân mỗi Tín hữu, Gia đình Cơ Đốc, Hội Thánh. Vấn đề của Công Giáo là quá hội nhập dẫn đến hòa tan. Còn vấn đề của Tin Lành là quá cực đoan và xa lánh với văn hóa Việt Nam. Chúng ta cần quan tâm đến: cách sống của chúng ta, cách thực hiện niềm tin Cơ Đốc của chúng ta. Chứ chúng ta không nên quá quan tâm đến vấn đề “những phong tục tập quán của Việt Nam đúng hay là sai”. Vì điều quan trọng là chúng ta phục hồi mọi mối quan hệ với Chúa chứ không phải là chỉ ra chỗ đúng và chỗ sai của phong tục tập quán. Đây “là sai lầm của người Tin Lành”. Tôi không thể tưởng tượng được ra tại sao các hệ phái Tư Gia lại đọc bản “Tuyên Ngôn Thuộc Linh” tại sân vận động Mỹ Đình: “Mọi giao ước mà các thế hệ trước của dân tộc Việt Nam đã lập với Sa-tan, từ nay đã bị hủy bỏ hoàn toàn…”[29] Đây không phải câu nói đại diện cho Tin Lành ở Việt Nam. Nhưng từ đó trở đi những người Tin Lành vô can ở Việt Nam bị gọi là “bệnh hoạn”, “mất gốc”, “phản quốc”,… Chưa kể có người lại lôi chuyện “Con Rồng cháu Tiên” để phân tích và làm cho Tin Lành bị vạ lây. Danh Chúa bị người đời xúc phạm. Chúng ta cũng cần nghiên cứu để định nghĩa xem thế nào là Văn Hóa thế nào Hủ Tục. Cái nào là Văn Hóa, cái nào là Hủ Tục. Nếu là Hủ Tục thì cần phải bỏ vì “Văn hóa” có nghĩa là trở nên đẹp là thứ mà chúng ta cần trân trọng.

Bên cạnh đó, các Hội Thánh cần được giáo dục, dạy cho các tín hữu tìm hiểu phong tục, tập quán, truyền thống, văn hóa, lịch sử Việt Nam, bản sắc Việt Nam, tư tưởng Việt Nam, triết lý Việt Nam… và khai thác trên nên tảng lời Chúa để đi gần gũi với dân tộc. Chúng ta bị người khác hiểu lầm bởi thay vì đến gần với dân tộc thì chúng ta tách ra khỏi dân tộc. Chúng ta sống không có ảnh hưởng chút gì với các gia đình láng giềng, chúng ta vô cảm trước những vấn đề của xã hội, của dân tộc của tổ quốc. Chúng ta bỏ mặc dân tộc. Thậm chí chúng ta gạt dân tộc ngay cả trong lời cầu nguyện của chúng ta?

III. Kết Luận

Để xây dựng một giá trị Cơ Đốc tích cực trước tín ngưỡng thờ cúng Ông bà Tổ tiên của người Việt là vô cùng khó. Khi tin ngưỡng cao đẹp này đã ăn sâu vào tâm hồn người Việt. Vì vậy chúng ta không bao giờ được phép xa dời nền tảng lời Chúa nhưng cũng không bao giờ được phép cứng nhắc. Bởi vì nó là một tín ngưỡng cao đẹp nên chúng ta cần hướng tới điều cao đẹp. Bởi vì nó ra từ Tâm Hiếu nên cũng phải lấy Tâm Hiếu theo chuẩn Kinh Thánh để đối lại. Qua đó, có thể xây dựng mối quan hệ tốt với những người trong gia đình và dòng họ. Đây là điều gần như quyết định sự thành bại cho việc phá bỏ ngộ nhận: “đạo bỏ ông bỏ bà” khỏi mọi người.  Đồng với điều này, nếp sống đạo của chúng ta phải tỏ cho mọi người thấy Chúa trên đời sống mình, để người ta thấy Đạo đi giữa đời thường, để chính đời sống của mỗi chúng ta trở thành cuốn Kinh Thánh sống động và thực nhất giữa thế gian này.

Nguyền xin chính Đức Chúa Trời bình an khiến anh em nên thánh trọn vẹn, và nguyền xin tâm thần (Linh, Spirit, pneu/ma Pneuma), linh hồn (Hồn, Soul, yuch, Psuche), và thân thể (Thân, body sw/ma Soma) của anh em đều được giữ vẹn, không chỗ trách được, khi Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta đến! (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23). Amen!

Nguyễn Trọng Bình

V.I.B.I

(http://vibiwebsite.com/)

 Chú thích: 


 

[1] Tân Việt. 100 Điều Nên Biết Về Phong Tục Việt Nam (Hà Nội: NXB Văn Hóa Dân Tộc, 2013), 76

[2] Vũ Quỳnh – Kiều Phú, “Lĩnh Nam Chích Quái, ” http://namkyluctinh.org/a-sachsuvn/LinhNamChichQuai[1492].pdf (Ngày truy cập 3/5/2014)

[3] Bảo Tàng Nhân Học, “Hiện vật văn hoá Sơn vi,” http://baotangnhanhoc.org/vi/gioi-thieu/suu-tap-hien-vat-va-mau-vat/17-hin-vt-vn-hoa-sn-vi.html
(Ngày truy cập 3/5/2014)

[4] Nguyễn Tài Thư et al. Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam. Tập 1. (Hà Nôi: Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam NXB Khoa Học Xã Hội, 1993) 40-41

[5] Nguyễn Lân Dũng, “GS Nguyễn Lân Dũng giải thích chuyện 3 hồn 7 vía”, Báo Nông nghiệp Việt Nam,
http://alobacsi.vn/thoi-su/gs-nguyen-lan-dung-giai-thich-chuyen-3-hon-7-via-a20110830115013452c160.htm
(Ngày truy cập 3/5/2014)

[6] Leopold Cadiere. Văn Hóa, Tín Ngưỡng Và Thực Hành Tôn Giáo Người Việt. Tập 3(Huế: NXB Thuận Hóa, 2010), 161

[7]Leopold Cadiere. Văn Hóa, Tín Ngưỡng Và Thực Hành Tôn Giáo Người Việt. Tập 1(Huế: NXB Thuận Hóa, 2010), 36

[8] Leopold Cadiere. Tập 3, 168

[9] Nguyễn Lân Dũng. ibid

[10] Leopold Cadiere. Tập 3, 163,172,173

[11] Trần Ngọc Thêm. Tìm Về Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam (Hồ Chí Minh: NXB Tổng Hợp, 2004), 248

[12] Nguyễn Lân Dũng. ibid

[13] Trần Ngọc Thêm, 248

[14] Nguyễn Văn Toàn. Thọ Mai Gia Lễ (Sài gòn: NXB Thanh Hóa, Tân Hợi),144

[15] Nguyễn Văn Toàn. ibid

[16] Tân Việt, 94

[17] Reimer, Reginald E. “Religious dimension of the Vietnamese cult of the ancestors.” Missiology 3, no. 2 (April 1, 1975): 165-167. ATLA Religion Database with ATLASerials, EBSCOhost (accessed March 11, 2014).
http://search.ebscohost.com/login.aspx?direct=true&db=rfh&AN=ATLA0000751418&site=ehost-live

[18] Bernard Lauret  và Francois Refoilé. Đường Vào Thần Học. Tập 3B. Translated: Lm Gioakim Nguyễn Đức Việt
Châu,S.S.S. & Dân Chúa. Gretna. La (NXB, Cơ Sở Truyền Thông và Nguyệt san Dân Chúa), 246

[19] Bernard Lauret & Francois Refoilé. 247

[20] Charles C. Ryrie. Thần Học Căn Bản. (Sài gòn: NXB Tôn Giáo, 2010), 241

[21] I. Howard Marshall.A.R. Millard và J,I.Pacler.D.J Wiseman. Thánh Kinh Tân Từ Điển. Dịch: Viện Thần Học Tin Lành Việt Nam. Tp. HCM (NXB Phương Đông, 2009), 1030

[22] Millard J.Erickson. Thần Học Cơ Đốc Giáo. Tập I. Dịch: UUC Viện Thần Học Việt Nam. Sài gòn(NXB Thời
Đại, 2009), 557

[23] Bernard Lauret & Francois Refoilé. 247

[24] Charles C. Ryrie. Thần Học Căn Bản. 645

[25] Charles C. Ryrie. Thần Học Căn Bản. ibid

[26] Đặng Thế Kiệt. Hán Việt Từ Điển. Hanviet.Org

[27] Lm. Stêphanô Huỳnh Trụ. “Linh Khí – Thần Khí” http://www.conggiaovietnam.net/index.php?m=module2&v=detailarticle&id=120&ia=11690

[28] Lm. Võ Tá Khánh. Về Với Cội
Nguồn
. Tp.Hồ Chí Minh(NXB Phương Đông, 2013), 38

[29] HIỂM HỌA LỜI TUYÊN NGÔN THUỘC LINH BỊNH HOẠN CỦA MỤC SƯ TIN LÀNH Ở
VN. 
Mỹ Đình – Hà Nội vào ngày 20 tháng 12 năm 2009. Hiệp
Hội Thông Công Cơ Đốc Hà Nội (HCF).  http://www.youtube.com/watch?v=CuADMaTbLdA#t=142

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Công cụ tra cứu Kinh Thánh trực tuyến BIBLE HUB. Http://biblehub.com/

2. Phần mềm tra cứu Kinh Thánh: Viet Bible, Bible Work .

3. Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước. Bản dịch truyền thống, NXB Tôn Giáo, 2012.

4. 100 Điều Nên Biết Về Phong Tục Việt Nam. Tân Việt.  Hà Nội: NXB Văn Hóa Dân Tộc, 2013.

5. Lĩnh Nam Chích Quái. Vũ Quỳnh – Kiều Phú, http://namkyluctinh.org/a-sachsuvn/LinhNamChichQuai[1492].pdf.

 6. Hiện vật văn hoá Sơn vi. Bảo Tàng Nhân Học. http://baotangnhanhoc.org/vi/gioi-thieu/suu-tap-hien-vat-va-mau-vat/17-hin-vt-vn-hoa-sn-vi.html.

7. Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam. Tập 1. Nguyễn Tài Thư et al. Hà Nôi: Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam NXB Khoa Học Xã Hội, 1993.

8. GS Nguyễn Lân Dũng giải thích chuyện 3 hồn 7 vía. Báo Nông
nghiệp Việt Nam, http://alobacsi.vn/thoi-su/gs-nguyen-lan-dung-giai-thich-chuyen-3-hon-7-via-a20110830115013452c160.htm.

9. Văn Hóa, Tín Ngưỡng Và Thực Hành Tôn Giáo Người Việt. Tập 3. Leopold Cadiere. Huế: NXB Thuận Hóa, 2010.

10. Tìm Về Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam. Trần Ngọc Thêm. Hồ Chí Minh: NXB Tổng Hợp, 2004.

11. Thọ Mai Gia Lễ. Nguyễn Văn Toàn. (Sài gòn: NXB Thanh Hóa, Tân Hợi),144

12. Reimer, Reginald E. “Religious dimension of the Vietnamese cult of the ancestors.” Missiology 3, no. 2 (April 1, 1975): 165-167. ATLA Religion Database with ATLASerials, EBSCOhost (accessed March 11, 2014).
http://search.ebscohost.com/login.aspx?direct=true&db=rfh&AN=ATLA0000751418&site=ehost-live.

13. Đường Vào Thần Học. Tập 3B. Bernard Lauret và Francois Refoilé. Translated: Lm Gioakim Nguyễn Đức Việt Châu,S.S.S. &
Dân Chúa. Gretna. La: NXB, Cơ Sở Truyền Thông và Nguyệt san Dân Chúa.

14. Thần Học Căn Bản. Charles C. Ryrie. (Sài gòn: NXB Tôn Giáo, 2010), 241

15. Thánh Kinh Tân Từ Điển. I. Howard Marshall.A.R. Millard và J,I.Pacler.D.J Wiseman. Dịch: Viện Thần Học Tin Lành Việt
Nam. Tp. HCM: NXB Phương Đông, 2009.

16. Thần Học Cơ Đốc Giáo Tập I. Millard J.Erickson.. Dịch: UUC Viện Thần Học Việt Nam. Sài gòn: NXB Thời
Đại, 2009.

17. Về Với Cội Nguồn. Lm. Võ Tá Khánh. Tp.Hồ Chí Minh: NXB Phương Đông, 2013.

18. HIỂM HỌA LỜI TUYÊN NGÔN THUỘC LINH BỊNH HOẠN CỦA MỤC SƯ TIN LÀNH Ở
VN. 
Mỹ Đình – Hà Nội vào ngày 20 tháng 12 năm 2009. Hiệp
Hội Thông Công Cơ Đốc Hà Nội (HCF).  http://www.youtube.com/watch?v=CuADMaTbLdA#t=142

19. Hán Việt Từ Điển. Đặng Thế Kiệt. Hanviet.Org

20.  Linh Khí – Thần Khí. Lm. Stêphanô Huỳnh Trụ.
http://www.conggiaovietnam.net/index.php?m=module2&v=detailarticle&id=120&ia=11690

 

 

V.I.B.I

 

 



Comments

comments

About The Author

Number of Entries : 217

Liên Phái Thánh Kinh Thần Học Viện Việt Nam Website đang xây dựng

Scroll to top