Suy Tư về Hiếu Đạo của Người Việt Reviewed by Momizat on . Suy Tư về Hiếu Đạo của Người Việt Phải hiếu kính cha mẹ, để các ngươi có thể sống lâu trên đất mà CHÚA, Đức Chúa Trời các ngươi ban cho.(Xuất hành 20: 12; BDM). Suy Tư về Hiếu Đạo của Người Việt Phải hiếu kính cha mẹ, để các ngươi có thể sống lâu trên đất mà CHÚA, Đức Chúa Trời các ngươi ban cho.(Xuất hành 20: 12; BDM). Rating:
You Are Here: Home » Mục Vụ » Bài viết phân tích » Suy Tư về Hiếu Đạo của Người Việt

Suy Tư về Hiếu Đạo của Người Việt




HieuSuy Tư về Hiếu Đạo của Người Việt

Phải hiếu kính cha mẹ, để các ngươi có thể sống lâu trên đất mà CHÚA, Đức Chúa Trời các ngươi ban cho.(Xuất hành 20: 12; BDM).

I – DẪN NHẬP

Trên thế giới ngày nay có khoảng hơn hai trăm quốc gia với hàng ngàn các sắc dân khác nhau. Nhưng có một điều mà ít ai phản bác, ấy là: hầu như quốc gia nào, sắc dân nào thì mối quan hệ trong gia đình luôn được xem trọng; trong đó đặc biệt là mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái luôn được đặt lên hàng đầu. Trong mối quan hệ ấy thì việc sinh con và dưỡng dục chúng của bậc làm cha, làm mẹ được coi là đương nhiên vì người ta cho rằng đó là “chức năng thiên phú”.

Còn việc con cái phải vâng phục cha mẹ; phải phụng dưỡng, làm vui lòng cha mẹ khi cha mẹ về già mà các sắc dân từ phương Tây sang phương Đông, từ phương Bắc xuống phương Nam đều sử dụng chung một khái niệm để hiểu và thực hành đó là chữ Hiếu thì thông thường những kẻ làm con lại không coi đó là bổn phận đương nhiên mà hầu hết họ lại coi đó là nghĩa vụ bắt buộc phải gánh vác.

Điều hiển nhiên là, mỗi một quốc gia, mỗi dân tộc, mỗi sắc dân có lối sống khác nhau, có truyền thống khác nhau; do đó cách hiểu và thực hành chữ Hiếu của họ cũng khác nhau. Cách hiểu về chữ Hiếu và thực hành chữ Hiếu của người Mỹ không thể giống người Trung Hoa; cách hiểu và thực hành chữ Hiếu của người Ixraen chắc chắn sẽ khác người Lào.

Với dân tộc Việt thì truyền thống gắn kết các thành viên trong gia đình luôn được đề cao và khuyến khích bảo tồn, trong đó lối sống có Hiếu của con cái với bậc sinh thành còn được tôn lên thành Hiếu đạo. Điều quan trọng trong việc thực hành Hiếu đạo của người Việt còn nằm ở chỗ, nếu anh là người con có Hiếu thì anh không chỉ phụng dưỡng, làm vui lòng cha mẹ của anh mà anh còn phải tôn kính những bề trên của cha mẹ anh nữa. Nếu họ còn sống thì anh phải phụng dưỡng; còn nếu họ qua đời thì anh phải thờ phụng.

Theo truyền thống của người Việt thì quan hệ phải có trách nhiệm của một người (người nam cùng huyết thống) được qui định là 9 đời hay cửu tộc. Cụ thể chín đời bao gồm: “Cao tổ” trong tiếng Việt gọi là kỵ; “Tằng tổ” gọi là cụ; “Tổ phụ” gọi là ông; “Phụ thân” gọi là cha; “Tự kỷ” tức là chính bản thân mình; “Nhi tử” gọi làcon; “Tôn tử” gọi là cháu; “Tằng tôn” gọi là chắt; “Huyền tôn” gọi là chút [ 1] .

Điều cần bàn ở đây là: nếu thực hành Hiếu đạo như mô hình trên thì các Cơ Đốc nhân (CĐN) nói chung và Tín Hữu Tin Lành Việt Nam (THTL VN) nói riêng sẽ rất khó chấp nhận. Bởi theo tinh thần của Thánh Kinh thì họ chỉ có thể phụng dưỡng cha mẹ họ, hoặc cùng lắm là ông bà khi các vị ấy còn sống, chứ họ không thể thờ phụng ông bà, cha mẹ khi các vị ấy đã qua đời; từ đó lại càng không thể thờ phụng những vị ở đời xa hơn nữa như cụ hay kỵ. Ở đây, chúng tôi không đề cập đến vấn đề thờ cúng ông bà tổ tiên vì đây là vấn đề lớn và sẽ được thảo luận trong dịp khác; nhưng chỉ xét riêng về cách hiểu và thực hành Hiếu đạo thì đã thấy có sự khác nhau giữa THTL VN với truyền thống của người Việt.

Bài viết nhỏ này không hy vọng giải tỏa hay thu hẹp sự khác biệt đó, mà chỉ tìm hiểu thêm và nêu một số vấn đề để các THTL VN cùng suy ngẫm xem nên có thái độ như thế nào để không bị dị ứng, thậm chí là đi đến chỗ đả phá rồi tẩy chay truyền thống rất nhân văn của chính dân tộc mình như đã từng xảy ra.

 

II – NỘI DUNG

1. Tìm hiểu về Hiếu đạo nói chung.

Trong tiếng Việt chữ “Hiếu” được hiểu theo hai nghĩa, cụ thể là:

  1. Lòng kính yêu và biết ơn mẹ cha;
  2. Lễ tang cha mẹ, lễ tang người bề trên trong gia đình nói chung (gọi là việc hiếu) [2]. .

Còn chữ “Đạo” nằm trong cụm từ “Hiếu đạo” được hiểu theo một số nghĩa như:

  1. Đường lối, nguyên tắc mà con người có bổn phận giữ gìn và tuân theo trong cuộc sống xã hội;
  2. Nội dung học thuật của một học thuyết được tôn sùng ngày xưa;
  3. Một tổ chức của một tôn giáo nào đó. [3]

Do trong quá khứ đất nước chúng ta bị các triều đại phong kiến Trung Hoa thống trị hơn một ngàn năm. Nên trong ngôn ngữ của người Việt đã “vay mượn” rất nhiều ngôn ngữ của người Hán (dân tộc chiếm đại đa số ở Trung Hoa). Vì thế để có thể hiểu được sâu hơn, thiết tưởng chúng ta cũng nên dành vài dòng tìm hiểu Hiếu đạo trong từ Hán Việt.

Trước hết về chữ Hiếu: trong tiếng Hán chữ “Hiếu” được viết là: 孝 nếu là động từ nó có nghĩa: hết lòng phụng dưỡng cha mẹ; nếu là danh từ nó có nghĩa: đạo lí phụng thờ cha mẹ, lễ nghi cư tang, hoặc tang phục như: khi mặc tang phục thì gọi là xuyên hiếu (穿 孝), khi trút bỏ tang phục thì gọi là thoát hiếu (脫 孝); còn nếu là tính từ nó có nghĩa là hiếu thảo tức là tấm lòng kính yêu cha mẹ. [4]

Đã có rất nhiều học giả túc Nho là người Việt, và người nước ngoài quảng diễn chữ Hiếu theo nhiều cách khác nhau; nhưng tựu trung, nội dung của chữ “Hiếu” chủ yếu đề cập đến cách cư xử, thái độ, tình cảm của con cái đối với cha mẹ và những người bề trên khác. Cụ thể là, thực hành chữ “Hiếu” chỉ có một chiều “từ dưới lên” nghĩa là con cái phải có bổn phận phụng dưỡng, vâng phục và tôn kính cha mẹ mà không có chiều ngược lại.

Tại sao chúng tôi có thể nói được như vậy? Lý do là không một bậc cha mẹ nào không yêu thương con cái, thậm chí sẵn sàng hy sinh vì con cái; đó là lẽ tự nhiên. Thậm chí ngay với loài vật, chúng cũng biết chăm sóc cho con cái của chúng; tức là làm cha mẹ mà thương xót con thì con người có mà con vật cũng có. Nhưng làm con mà thương yêu, săn sóc, vâng phục cha mẹ thì chỉ con người mới có; đây cũng là phần quan trọng để xác nhận con người thực sự là “người”.

Chữ thứ hai cần tìm hiểu là chữ Đạo: trong tiếng Hán có nhiều chữ “Đạo”; mỗi chữ lại có một hay nhiều nghĩa khác nhau.

Ví dụ:

  1. chữ Đạo (纛): là danh từ chỉ cờ tiết mao dùng làm nghi vệ cho thiên tử, hoặc cờ lớn ở trong quân ngũ;
  2. chữ Đạo (導) có nghĩa là: dẫn đưa, dẫn đường; chỉ bảo, khai mở; truyền, dẫn;
  3. chữ Đạo (盜): nếu là động từ nó chỉ hành động ăn trộm, ăn cắp hay tự thủ lợi ngầm, còn nếu là danh từ nó chỉ kẻ trộm, kẻ cắp hay giặc cướp;
  4. chữ Đạo (道): là danh từ nó nói đến con đường, dòng chảy; cái lẽ nhất định ai cũng phải noi theo; phương pháp, phương hướng, cách thức; tư tưởng, học thuyết; hay tôn giáo … và chữ Đạo dùng trong Hiếu đạo là chữ 道.[5] 

Như vậy, nếu coi “Đạo” là con đường, một phương cách, một lối sống, một phương tiện, hay thậm chí là một thói quen … mà một cộng đoàn người chấp nhận và tuân theo, thì cái Đạo ấy chắc chắn phải nhằm đến một mục đích nào đó, để giải quyết một vấn đề nào đó, hoặc để làm sáng tỏ một sự vật, một triết lý sống hay một ý tưởng nào đó của con người.

Ví dụ: mục đích sự tu tập của Phật giáo là giúp con người ta giải thoát khỏi mọi sự đau khổ phiền não, thế thì mọi giáo lý, giáo luật, phương cách hành đạo chỉ nhằm để đạt được sự giải thoát ấy, và được cả cộng đồng tín đồ Phật giáo chấp nhận làm theo.

Từ đó lại thấy: tùy theo mỗi phương cách, mỗi mục đích khác nhau mà nảy sinh những đạo khác nhau. Ví dụ: nếu coi chính đạo là một lối sống theo pháp luật qui định, theo tiêu chuẩn đạo đức mà xã hội chấp nhận; thế thì tà đạo là nói đến lối sống của một số người bất tuân pháp luật, đi ngược lại tiêu chuẩn đạo đức mà đại đa số người trong xã hội chấp nhận; đây là lối sống theo thói quen, hay theo một luật lệ riêng do một số ít người trong xã hội qui định, đi ngược lại với pháp luật hay tiêu chuẩn đạo đức chung của xã hội hay của những tôn giáo lớn qui định.

Tuy rằng số người theo tà đạo chưa chắc đã là số đông trong xã hội, hành vi và những qui định, luật lệ của họ có thể là “phi pháp” (theo quan điểm của chính đạo), nhưng họ vẫn sống và thực hành cái đạo của họ.

Ví dụ: những kẻ trộm cắp chuyên nghiệp luôn tuân thủ qui tắc của nghề trộm cắp, họ phải thờ tổ sư của nghề này là một “đại bợm” từ thời Xuân Thu ở bên Trung Hoa tên là Đạo Chích [6] ,.những thành viên trong các gia đình mafia phải tuân theo luật im lặng; những kẻ phiêu bạt giang hồ phải tuân theo luật giang hồ …

Như vậy, có thể thấy, mỗi nhóm người chọn lối sống chung, con đường chung, mục đích chung, lý tưởng chung … đều tự nguyện tin theo, chấp nhận và tuân giữ cái Đạo của họ.

Rút gọn lại, có thể nói chữ “Đạo” mang nhiều ý nghĩa, nhưng chủ yếu nói đến một lối sống, một mục đích sống, một lý tưởng sống của nhóm người tự nguyện chấp nhận và tuân giữ; đồng thời sự khác nhau về lối sống, mục đích sống, lý tưởng sống, sẽ hình thành những Đạo khác nhau.

Trên cơ sở tìm hiểu về chữ “Hiếu” và chữ “Đạo” như trên có thể hiểu một cách đơn sơ về “Hiếu đạo” là: Đạo phụng dưỡng, thờ phụng cha mẹ và các bề trên (cùng huyết thống), nó không chỉ phản ánh mối quan hệ sống động mà còn chỉ ra một lối sống, một phương cách, một lối hành xử của con cái đối với cha mẹ và tổ tông của họ; việc thực hành của Hiếu đạo chỉ thực hành theo một chiều “từ dưới lên” tức là con cái dành cho cha mẹ, chứ không có chiều ngược lại.

Từ cách hiểu về “Hiếu đạo” như trên, chúng ta cùng xem quan niệm và phương cách thực hành Hiếu đạo của người Việt như thế nào?

2. Quan niệm về Hiếu đạo của người Việt

a) Hiếu đạo theo dân gian

Cho đến tận ngày hôm nay, vẫn chưa có bộ sách nào hay nghiên cứu nào ghi rõ “Hiếu đạo” xuất hiện ở VN từ khi nào. Tuy nhiên, thông qua kho tàng cổ tích, ca dao và tục ngữ VN thì chúng ta thấy truyền thống con cái sống hiếu hạnh với cha mẹ xuất hiện từ rất sớm, có thể nói ngay từ thời dựng nước (nước Văn Lang của các vua Hùng) đã có rồi, và nó luôn lưu truyền và được bảo tồn trong dân gian mà không cần lý luận hay thiết chế gì.

Chỉ cần lướt qua vài câu ca dao thì chúng ta có thể thấy trong tâm thức người Việt việc nhớ ơn và báo đáp công sinh thành dưỡng dục của con cái với cha mẹ được coi như lẽ đương nhiên. Có lẽ là người Việt không ai không thuộc câu:

“Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”

(Ca dao VN)

 

Vì công cha, nghĩa mẹ nên những người làm con đã luôn tìm cách báo đáp ơn sâu nghĩa nặng ấy. Ví dụ:

“Mẹ già ở túp lều tranh
Sớm tối thăm viếng mới đành dạ con”

“Tôm càng lột vỏ bỏ đuôi,
Giã gạo cho trắng mà nuôi mẹ già”

“Dấn mình gánh nước làm thuê
Miễn nuôi được mẹ quản gì đến thân”

(Ca dao VN)

Những người làm con nỗ lực báo hiếu còn là để làm gương cho thế hệ sau nữa (tức mang tính kế thừa). Ví dụ:

“Nếu mình hiếu với mẹ cha
Chắc con cũng hiếu với ta khác gì
Nếu mình ăn ở vô nghì
Đừng mong con hiếu làm gì uổng công”

(Ca dao VN)

Trên đây là truyền thống Hiếu đạo được hình thành một cách rất tự nhiên trong không gian gia đình.

Tuy nhiên, Hiếu đạo trong dân gian của người Việt, không chỉ bó hẹp trong không gian gia đình, mà ngay từ thuở dựng nước thì Hiếu đạo đã được mở rộng ra cộng đồng và thiên nhiên nữa. Chúng ta có thể nhìn thấy điều này qua một truyền thuyết từ thời kỳ các vua Hùng mà bất kỳ người Việt nào cũng được nghe, và thuộc từ thời còn học vỡ lòng.

Đó là: Sự Tích Bánh Trưng, Bánh Dày. Qua đó, sự kiện Hoàng tử thứ 18 của vua Hùng thứ VI đã chọn gạo nếp, đỗ xanh, lá dong để làm ra bánh trưng và bánh dày dâng lên cho vua cha đã cho thấy những ý nghĩa rất nhân văn;

  • Thứ nhất, ông biết nhớ đến ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ.
  • Thứ hai, biết nhớ ơn trời đất (bánh dày tượng trưng cho trời, bánh chưng tượng trưng cho đất);
  • Thứ ba, ông biết trân trọng nhân dân lao động vì thóc gạo là do người dân phải vất vả dãi nắng dầm mưa để tạo nên những “hạt ngọc” nuôi sống con người, mà không sa đà vào những thói ích kỷ tranh quyền đoạt lợi chỉ nhăm nhăm lên rừng xuống biển tìm của ngon vật lạ hòng nhằm vào ngôi báu như các hoàng tử khác.

Như vậy, việc thực hành Hiếu đạo của hoàng tử Lang Liêu không chỉ đối với cha mẹ tức là trong không gian hẹp của gia đình, mà còn có hiếu với cả trời đất, quốc gia và nhân dân nữa. Việc lựa chọn hoàng tử Lang Liêu kế vị ngôi báu cũng là một sự sáng suốt của Hùng Vương thứ VI; bởi cớ nếu một người không biết ơn, hiếu kính ngay với cha mẹ mình thì làm sao có thể yêu thương và lo lắng cho dân cho nước được.

Ở đây cũng có điều cần xem xét là: Tại sao Hiếu đạo của người Việt hình thành sớm và được coi trọng như vậy?

Nếu xét thuần túy về khía cạnh thực tế, thì xã hội của người Việt ngay từ thuở xa xưa đã là cư dân của nền nông nghiệp lúa nước. Do cuộc sống nông nghiệp luôn phải phụ thuộc vào thiên nhiên, vì thế người nông dân bắt buộc phải dựa vào nhau, liên kết với nhau thành cộng đồng để đối phó với những khắc nghiệt của cả môi trường tự nhiên (lũ lụt, hạn hán, bão tố …) và môi trường xã hội (nạn lừa đảo, cướp bóc, ngoại xâm …).

Đặc biệt ở nông thôn thì tổ chức theo gia đình, gia tộc (cùng huyết thống) luôn được coi là nền tảng. [7] Trong “tổ chức nền tảng” này thì mối quan hệ về luân lý giữa các thế hệ luôn được yêu cầu phải tuân thủ và bảo tồn; trong đó cách hành xử của cha mẹ dành cho con cái, con cái dành cho cha mẹ được hình thành một cách rất tự nhiên. Như vậy, có thể nói từ thuở xa xưa của người Việt thì Hiếu đạo đã được hình thành từ thực tiễn của đời sống nông nghiệp lúa nước; thời kỳ này nó hoàn toàn mang tính dân gian mà chưa hề mang tính lý luận nào. Cho đến khi, nền văn học thành văn hình thành (khoảng thế kỷ thứ II S.C), do Nho giáo từ Trung Hoa tràn vào và Hiếu đạo theo lý luận của Nho giáo mới được phổ biến, cũng từ đó Hiếu đạo của người Việt mới mang tính qui củ.

Tuy vậy, truyền thống hiếu hạnh trong gia đình của người Việt vẫn không bị Hán hóa hoàn toàn. Vậy, khi Nho giáo vào VN thì Hiếu đạo của người Việt đã tiếp thu tính luận lý và được phát triển như thế nào?

b) Hiếu đạo theo lý luận Nho giáo.

Về sự ảnh hưởng của Nho giáo đến Hiếu đạo của người Việt, có học giả đã nhận định:

“Qua ngót ngàn năm chống Bắc thuộc, đạo hiếu ở VN được lý luận hóa, nó gắn liền với những tiêu chí đạo đức xã hội: Tam cương Ngũ thường. Chữ hiếu bước từ qui mô gia đình ra xã hội, chuyển từ trạng thái dân gian sang xu thế quan phương hóa, từ chưa mang tính hệ thống sang tính qui củ … Trên thực tế, sự tiếp nhận ấy chỉ là yếu tố lý luận. Do đặc trưng và tính cách văn hóa VN khá khác biệt với phần còn lại của các nền văn hóa chữ Hán, truyền thống đạo hiếu ở VN vẫn mang đặc trưng riêng của nó, hoàn toàn nằm trong hệ thống bản sắc văn hóa VN”. [8]

 

Theo quan điểm của chúng tôi nhận định trên tuy chưa thật đầy đủ nhưng xác đáng. Trong đó Tam cương là ba giềng mối quan trọng nhất trong xã hội quân chủ theo quan điểm của Nho giáo, cụ thể là: Quân (君) –Thần (臣) tức vua và bề tôi; Phụ (父) – Tử (子) tức cha và con, Phu (夫) – Phụ (婦) tức vợ và chồng.

Còn Ngũ thường (五 常) là năm đức tính được coi như tín điều của Nho giáo, nghĩa là năm đức tính của một người (nam) buộc phải có, không thể thiếu được là: Nhân (仁), Nghĩa (義), Lễ (禮), Trí (智), Tín (信). Trong đó, có thể hiểu một cách đơn giản: Nhân là lòng yêu người, khoan dung từ ái, nhân hậu, hay động lòng trắc ẩn; Nghĩa là yêu thích lẽ phải, thuận theo chính đạo, ghét điều ác; Lễ là hiểu biết phép tắc, qui phạm trong xã hội, biết tôn trọng người khác; Trí là trí tuệ, thấu hiểu lí sự, là biết phân biệt phải trái; Tín là lòng thành thực, tin tưởng không nghi ngờ.

Quả thật, trong xã hội cả xưa cũng như nay, nếu con người thực hành được năm đức này thì đó là một xã hội tốt đẹp. Bởi cớ, nếu Nhân được thực hành thì người ta sẽ từ chối làm việc ác; nếu Nghĩa được yêu thích thì người ta sẽ không phản bội nhau; nếu Lễ được gìn giữ thì người ta sẽ không bất chấp pháp luật để làm bậy; nếu Trí được tìm kiếm thì người ta sẽ thoát khỏi mê đắm và ngu muội; nếu Tín được tôn trọng thì người ta sẽ không lừa bịp và giả dối.

Nếu chỉ lướt qua Tam cương, Ngũ thường thì chúng ta hình như chưa nhìn thấy chữ Hiếu, nhưng kỳ thực chữ Hiếu ẩn tàng trong “giềng mối” thứ hai tức là quan hệ Phụ – Tử (cha con). Với mối quan hệ này thì trong các kinh sách của Nho giáo đã đề cập nhiều và hết sức kỹ lưỡng. Theo đó thì một người con có Hiếu ít nhất phải làm những điều sau:

Trước hết, Làm con thì phải phụng dưỡng cha mẹ với lòng kính trọng; như Khổng Tử trả lời học trò mình khi hỏi về Hiếu đạo đại ý rằng: “Ngày nay người ta thấy ai nuôi được cha mẹ thì gọi là người có hiếu. Nhưng đến chó ngựa, thì người ta cũng nuôi được. Cho nên nếu nuôi cha mẹ mà chẳng kính trọng thì có khác gì nuôi thú vật đâu?”. [9].Như thế kẻ làm con không chỉ phụng dưỡng chu đáo mà sự kính trọng cha mẹ phải được đặt lên trước.

Thứ hai, Làm con thì đừng để cha mẹ phải lo lắng, buồn phiền, đau khổ. Những điều cha mẹ phải lo lắng cho con cái thì rất nhiều, đồng thời giữa những Nho gia cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Ví dụ: Khổng Tử dạy học trò mình đại ý rằng: “Làm cha mẹ chỉ lo con cái bệnh tật”. [10].

Đến thời Mạnh Tử ông đã quảng diễn điều này đại ý rằng:

“Trong các việc phải phụng sự thì phụng sự cha mẹ là trọng đại hơn hết; trong các việc phải giữ gìn thì việc giữ gìn thân thể là trọng đại hơn hết. Người biết giữ gìn thân thể, không hủy hoại nó một cách vô ích mới có thể phụng dưỡng cha mẹ hết lòng. Còn kẻ không biết giữ gìn thân thể, hãm mình trong các cuộc say mê cho đến mang bệnh tật mà lại chí hiếu với cha mẹ thì chưa được nghe bao giờ. Vì thế, trong xã hội có nhiều việc phải phụng sự, nhưng phụng sự cha mẹ là gốc vậy. Ở trong thế gian có nhiều việc phải giữ gìn, nhưng giữ gìn thân thể mình là gốc vậy!” [11]

Sau này Mạnh Tử còn “thống kê” theo tiêu chuẩn thế tục thì chí ít có năm điều bất hiếu, đại ý rằng:

“Thế tục gọi là bất hiếu có năm điều: Tay chân chẳng chịu cử động để làm việc, chẳng đoái đến việc nuôi dưỡng cha mẹ; đó là điều bất hiếu thứ nhất. Đánh bạc, đánh cờ, ham uống rượu, chẳng đoái đến việc nuôi dưỡng cha mẹ; đó là điều bất hiếu thứ hai. Ham mê của cải, chỉ lo liệu cho vợ con, chẳng đoái đến việc nuôi dưỡng cha mẹ; đó là điều bất hiếu thứ ba. Tai ham nghe tiếng êm, mắt mê nhìn sắc đẹp, để cho cha mẹ phải tủi hổ; đó là điều bất hiếu thứ tư. Thích những việc dũng lực, tranh đấu bạo tợn khiến cha mẹ phải chịu nguy khốn; đó là điều bất hiếu thứ năm vậy”.[12]

Tuy nhiên, chính Mạnh Tử lại cho rằng: khi trưởng thành thì phải lo bề gia thất, nếu từ chối việc lấy vợ, làm cho tuyệt tự không có con cháu nối dõi để thờ cúng tổ tiên, đó mới là tội lớn nhất, là điều làm cho cha mẹ đau buồn nhất.[13]

Thứ ba, Làm con thì phải hết lòng quan tâm săn sóc cha mẹ, nhất là khi cha mẹ có tuổi, bởi người già sức khỏe suy giảm, sớm nắng chiều mưa, nếu xảy ra chuyện bất thường thì trông cậy vào ai. Khổng Tử từng dạy học trò đại ý rằng: phận làm con phải luôn nhớ tuổi của cha mẹ, nhớ để mừng vì cha mẹ được tuổi thọ, và để lo vì cha mẹ đã già yếu, khi cha mẹ có tuổi thì đừng bao giờ ham vui đi chơi xa, nếu có việc buộc phải đi thì phải báo cho cha mẹ biết là đi đâu.[14]

Thứ tư, khi cha mẹ ốm đau phải hết lòng săn sóc, khi cha mẹ qua đời phải lo tang lễ chu đáo. Phải nhớ đến công ơn cha mẹ, phải tế tự, thờ phụng cả sau khi cha mẹ qua đời. Riêng việc lo tang lễ và thờ phụng cho cha mẹ, thì Nho giáo có qui định hết sức chặt chẽ và chi tiết, từ tang phục, lễ nghi cho thân quyến của các giai tầng trong xã hội, trên là vua quan dưới đến thứ dân, những thành phần phải tham dự tang lễ, vật dụng sử dụng trong tang lễ, thời gian để tang … tất cả được ghi trong Kinh Lễ.

Ví dụ: “Thiên Tang phục tiểu ký”, Thiên Phục vấn thì qui định vể tang phục; Thiên Tang đại ký qui định về những vật dùng trong tang lễ của vua và các chư hầu, Thiên Bôn tang dạy về nghi thức dành cho kẻ sĩ ở xa khi nhận được tin người thân qua đời thì phải làm gì, “Thiên Tam niên vấn” thì giải thích tại sao phải để tang cha mẹ trong ba năm … Những qui định khắt khe này đều được du nhập vào VN, nhưng khi vào VN đã được đơn giản hóa đi rất nhiều. Vấn đề lo tang lễ cho song thân ở VN tuy cũng được soạn thảo thành văn bản hẳn hoi (sách Thọ Mai Gia Lễ), nhưng những qui định này không còn rườm rà phức tạp như những qui định được ghi trong Kinh Lễ.

Bên cạnh Tam cương (三 綱), Ngũ thường (五 常) Nho giáo còn kết hợp với Ngũ luân (五 倫) để hình thành qui phạm đạo đức thời phong kiến; trong đó Ngũ luân là năm thứ bậc quan hệ của người thời xưa gồm: quân (君) – thần (臣) tức vua tôi, phụ (父) – tử (子) tức cha con, huynh (兄) – đệ (弟) tức anh em, phu (夫) – phụ (妻) tức vợ chồng và bằng (朋) – hữu (友) tức bè bạn; Luân (倫) ở đây có nghĩa là trật tự, là thứ bậc đi kèm theo với năm thứ bậc này là những phép tắc rất qui củ. Cụ thể là:

“Đạo thông thường trong thiên hạ có năm bậc, muốn thi hành năm bậc đạo ấy cần phải có ba đức. Đó là vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bằng hữu. Đó là năm mối quan hệ thông thường trong thiện hạ. (Giữa vua và tôi phải có nghĩa; giữa cha và con phải có thân ái; giữa chồng và vợ phải có phân biệt; giữa anh và em phải có thứ tự; giữa bằng hữu kết giao phải có lòng tin). Còn ba cái đức thông thường trong thiên hạ là: trí, nhân và dũng. Dùng ba cái đức ấy để thi hành năm bậc đạo, tuy ba nhưng cũng như một”.[15]

Có học giả đã “luận” rằng:

“Cha con có thân tức là có Nhân, vua tôi có nghĩa tức là Nghĩa, vợ chồng có phân biệt tức là Lễ, lớn bé có trật tự tức là Trí, bạn bè có lòng tin tức là Tín … giai cấp thống trị phong kiến từ xưa đều coi Ngũ luân là điều cốt yếu trong việc trị nước”.[16]

Trên đây là những nét chính của Hiếu đạo mà người Việt tiếp thu được từ Nho giáo, nhìn chung những phép tắc ấy được các nhà Việt Nho, chính quyền phong kiến ở VN chấp nhận. Tuy nhiên, khi du nhập vào VN do những đặc trưng về tính cách vốn có của một dân tộc có xuất xứ từ nền nông nghiệp lúa nước như: trọng tính cộng đồng, trọng tình nghĩa, ưa thích sự hòa hiếu, tiếp thu các yếu tố văn hóa ngoại lai cách linh hoạt.

Nên Hiếu đạo ở VN không đặt quá nặng nề về phép tắc, không quá câu nệ về mặt hình thức; từ đó những qui tắc, thứ bậc của Nho giáo rất chặt chẽ, dứt khoát thì khi vào VN đã được dung hòa. Như một học giả đã nhận định:

“… chữ Hiếu được dung hòa với chữ Nghĩa qua cầu nối là Nhân. Quan hệ gia đình (Hiếu) hòa vào quan hệ xã hội (Nghĩa) do lợi ích kinh tế và điều kiện môi trường sống phụ thuộc vào tổ chức cấp cơ sở là làng xã. Hương ước giữ vai trò chủ đạo, nó chi phối cung cách sống của từng thành viên trong xã hội, do vậy tình cảm gia đình bị chia sẻ bởi tình cảm xã hội.

Chữ Hiếu được đặt song hành với chữ Nghĩa thậm chí trong Hiếu có Nghĩa. Cả Hiếu và Nghĩa có chung chữ Nhân. Trong tiềm thức dân gian. Một đứa con có Hiếu là một đứa con có Nghĩa, có lòng thương yêu người (Nhân), chan hòa cùng không gian xã hội dĩ nhiên trong đó có lòng thương yêu, tôn kính bố mẹ”.[17]

 

Một ví dụ cụ thể là: đến tận ngày hôm nay người Trung Hoa vẫn giữ khư khư quan niệm: “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, thì đã từ lâu trong ca dao VN đã có câu: “Trai mà chi, gái mà chi, sinh ra có nghĩa có nghì là hơn”.

Một điều nữa chúng ta thấy sự dung hòa trong Hiếu đạo của người Việt là ở chỗ: trong khi thứ bậc của Nho giáo rất rõ ràng như Trung thì ở cấp nhà nước còn Hiếu thì tồn tại ở không gian gia đình, nhưng ở VN thì hai thứ bậc này được dung hòa; mà ngay trong dân gian chúng ta đã có sự tích Bánh Trưng Bánh Dày đã nêu ở phần trên là một minh chứng, trong đó có Hiếu với cha là lẽ đương nhiên nhưng còn phải có Hiếu với cả dân và nước nữa.

Giai thoại về cha con của danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi có thể minh chứng cho khía cạnh này, nổi tiếng nhất là lời của Nguyễn Phi Khanh (là cha) khuyên Nguyễn Trãi (là con):

“Ta già rồi, chết cũng không hối hận, hãy để một mình em con theo ta, con là người có học, bây giờ hãy về tìm chân chúa để rửa nhục cho nước, trả thù cho cha. Như thế mới là Đại hiếu. Lọ là cứ phải đi theo cha, khóc lóc như đàn bà mới là hiếu sao?”.

Sau này công lao và sự nghiệp của Nguyễn Trãi như thế nào chúng ta đã rõ. Như thế chữ Hiếu trong Nho giáo khi vào VN nó đã không bị bó hẹp trong không gian gia đình nữa, mà còn được thực hành ở tầm mức rộng hơn nhiều ấy là Hiếu với dân, với nước. Từ đó, nếu coi việc thực hành Hiếu đạo trong không gian gia đình là Tiểu hiếu, thì có thể coi thực hành Hiếu đạo ở qui mô quốc gia, dân tộc là Đại hiếu.

Qua sự tìm hiểu trên thì Hiếu đạo được người Việt dung hòa giữa những yếu tố dân gian và qui tắc của Nho giáo. Trên cơ sở đó những yếu tố căn bản trong qui mô gia đình như: phụng dưỡng cha mẹ với lòng tôn kính, không được làm trái (lễ) để cha mẹ phải đau buồn chịu nhục nhã vì con, phải quan tâm và thường xuyên gần gũi bên cha mẹ khi họ đã có tuổi, khi cha mẹ qua đời thì phải lo hậu sự cho cha mẹ chu đáo (Tiểu hiếu); bên cạnh đó Hiếu đạo còn được mở rộng qui mô ở tầm quốc gia đó là Hiếu với Tổ quốc và dân tộc (Đại hiếu).

Với những đặc trưng trên của Hiếu đạo theo truyền thống của người Việt, chúng ta cùng xem các CĐN hay cụ thể hơn là các THTL VN có nhãn quan về Hiếu đạo như thế nào; đã thực hành ra sao và cần phải làm gì để có thể Phúc Âm hóa Hiếu đạo truyền thống của người Việt?

 

3. Hiếu đạo theo nhãn quan của Cơ Đốc nhân (CĐN), những điều đã thực hành và một số đề xuất.

a) Hiếu đạo theo nhãn quan của CĐN.

Có một điều chúng ta phải thừa nhận rằng: với các CĐN nói chung và THTL VN nói riêng, thì họ là công dân của nước VN trước khi họ là công dân Nước Trời; bởi vậy, chắc chắn những tinh túy của truyền thống Hiếu đạo của dân tộc đã ăn sâu trong tâm thức của họ. Khi trở nên con cái Chúa, họ lại được tiếp thu những sự dạy dỗ mới của nền Đạo Đức học Cơ Đốc, một nền đạo đức ưu việt, mang tính toàn diện hơn mọi nền đạo đức học khác.

Theo đó Đạo Đức học Cơ Đốc yêu cầu tín đồ đồng thời cùng một lúc anh ta phải đảm bảo duy trì tốt và cân bằng bốn mối tương quan: Đầu tiên và trước nhất là mối tương quan với Đức Chúa Trời, thứ hai là với người khác, thứ ba là với chính bản thân mình (tự kỷ), và cuối cùng là với môi sinh. [18]

Trong những mối tương quan trên, thì mối quan hệ giữa những người trong một gia đình nằm trong mối tương quan thứ hai, nếu coi Hiếu đạo được thực hành trong không gian gia đình thì Hiếu đạo được thực hành chủ yếu trong mối tương quan này.

Nhưng điều quan trọng mà từ trước đến nay những người chưa tin Chúa tại VN không biết, ấy là Lời Đức Chúa Trời chép trong Thánh Kinh dạy dỗ về Hiếu đạo rất cụ thể và chi tiết. Ngay từ thời xa xưa khi tuyển chọn dân sự của Ngài, thì Ngài đã ban cho họ pháp luật bao gồm 10 điều để dân sự theo đó mà thi hành (Xuất hành 20: 2-17). Trong đó, bốn điều đầu tiên qui định về nghĩa vụ dân sự phải thực hiện với Đức Chúa Trời, sáu điều còn lại là để thực hành trong vòng dân sự với nhau (quan hệ giữa người với người); về mối quan hệ giữa người với người thì điều đầu tiên mà Chúa yêu cầu mọi người phải thực hành là: Phải hiếu kính cha mẹ.

Điều này có nghĩa là với THTL thì hiếu kính cha mẹ không chỉ là bổn phận (lẽ đương nhiên) nhưng điều quan trọng hơn nằm ở chỗ: đây là đòi hỏi của Thiên Chúa, và đòi hỏi này phải được đặt lên hàng đầu trong cách hành xử giữa người với người. Như vậy, có thể nói: với một THTL không thể và không được phép bất hiếu với cha mẹ, vì nếu họ bất hiếu với cha mẹ của chính họ thì cũng đồng nghĩa không vâng phục Lời Đức Chúa Trời. Thế thì, chữ hiếu kính ở đây cần phải hiểu thế nào? Căn cứ vào Thánh Kinh thì hiếu kính cha mẹ ít nhất gồm một số khía cạnh:

Thứ nhất, một người con có hiếu phải tôn kính cha mẹ, bởi ngay từ thời Cựu Ước Thiên Chúa đã dạy: “Ai nấy phải tôn kính cha mẹ mình và giữ ngày Sa-bát của Ta” (Lê-vi 19: 3, BDM); thậm chí kẻ nào không tôn kính mà còn rủa sả cha mẹ thì bị xử tội chết (Lê-vi 20: 9).

Thứ hai, một người con biết hiếu kính thì phải vâng phục cha mẹ, đây là yêu cầu được Thiên Chúa nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần như: “Hỡi con ta, hãy nghe lời giáo huấn của cha con, và chớ bỏ lời dạy dỗ của mẹ con”(Châm 1: 8, BDM), hay: “Hỡi con ta, hãy giữ các điều răn của cha con, và chớ từ bỏ lời dạy dỗ của mẹ con. Hãy luôn luôn ghi khắc nó trong lòng; Hãy đeo nó nơi cổ con” (Châm 6: 20-21, BDM).

Sau này Thánh Phao-lô cũng dạy: “Hỡi các con cái, hãy vâng lời cha mẹ trong Chúa, vì như thế là phải đạo” (Ê-phê-sô 6: 1, BDM), ở một chỗ khác ông lại nói: “Hỡi các con cái, hãy vâng lời cha mẹ trong Chúa, vì như thế là phải đạo” (Cô-lô-se 3: 20, BDM). Ở khía cạnh này Chúa Cứu Thế Giê-su đã nêu một tấm gương vĩ đại về sự vâng phục, Ngài không chỉ vâng phục Cha trên Trời như chính Ngài phán rằng: “Thức ăn của Ta là tuân theo ý muốn của Đấng đã sai Ta và hoàn thành công việc Ngài” (Giăng 4: 34; BDM), nhưng Ngài còn tùng phục cả cha mẹ phần xác ở dưới đất nữa, như có chép: “Ngài theo cha mẹ về Na-xa-rét và tùng phục họ. Mẹ Ngài ghi khắc mọi việc ấy trong lòng. Đức Giê-su khôn ngoan càng thêm, thân hình càng lớn, càng được đẹp lòng Đức Chúa Trời và loài người” (Lu-ca 2: 51-52). Không những chỉ vâng phục, nhưng Ngài còn lên án rất mạnh mẽ những kẻ đạo đức giả khi viện cớ “dâng cho Chúa” mà không báo hiếu cha mẹ(Ma-thi-ơ 15: 3-9).

Thứ ba, là phải ân cần, săn sóc, hết lòng phụng dưỡng cha mẹ. Chúa Giê-su đã lên án những kẻ không phụng dưỡng cha mẹ, kể cả là kẻ đó lấy cớ đem của cải tiền bạc để phục vụ trong Đền Thánh (Mác 7: 9-13).

Trong sách Huấn ca của người Do-thái có đoạn rất cụ thể nói về sự săn sóc cha mẹ và những phúc lành được hưởng khi phụng dưỡng cha mẹ hết lòng, cụ thể:

“Con ơi hãy săn sóc cha con, khi người đến tuổi già; bao lâu người còn sống, chớ làm người buồn tủi. Người có lú lẫn, con cũng phải cảm thông, chớ cậy mình sung sức mà khinh dẻ người. Vì lòng hiếu nghĩa đối với cha sẽ không bị quên lãng, và sẽ đền bù tội lỗi cho con. Thiên Chúa sẽ nhớ đến con ngày con gặp khốn khó, và các tội lỗi con sẽ biến tan như sương muối biến tan lúc đẹp trời. Ai bỏ rơi cha mình thì khác nào kẻ lộng ngôn, ai chọc giậm mẹ mình, sẽ bị Đức Chúa Trời nguyền rủa” (Huấn ca 3: 12-15; Thánh Kinh Công giáo, Bản dịch năm 2011).

Thứ tư: Khi cha mẹ qua đời phải lo tang lễ chu đáo (theo nghi lễ Cơ Đốc). Điều cần lưu ý là Cơ Đốc nhân qua đời thì không phải chỉ toàn là thảm họa và đau xót khôn cùng như người ngoài Cơ Đốc, mà khi qua đời thì họ được an nghỉ trong Chúa (Khải huyền 14: 13); họ được ở cùng Chúa trong nơi phước hạnh (Lu-ca 23: 43; Phi-líp 1: 21,23; II Cô-rinh-tô 5: 8); cuối cùng là họ được sống lại trong ngày Chúa đến và ở cùng Chúa luôn luôn (I Tê-sa-lô-ni-ca 4: 17). Bởi thế khi cha mẹ qua đời thì con cái phải lo tang lễ hết sức chu đáo theo nghi lễ của Cơ Đốc; đồng thời những tập quán truyền thống của dân tộc mang đậm chất nhân văn như thăm hỏi, an ủi động viên về tinh thần, giúp đỡ về vật chất thì cần phải bảo lưu chứ không nên xóa sạch.

Như vậy, nếu nhìn theo không gian gia đình thì những qui tắc thực hành Hiếu đạo của người Việt có rất nhiều điểm phù hợp với những điều các CĐN được dạy dỗ trong Thánh Kinh; trừ một điều đó là Hiếu đạo theo truyền thống người Việt còn yêu cầu con cái phải thờ phụng cha mẹ và các ông bà đời trước nữa, đây là điều khác biệt lớn nhất và cũng là điều gây ra sự va chạm lớn nhất giữa Cơ Đốc giáo nói chung và truyền thống dân tộc.

Một điều cần đề cập nữa là: các CĐN (nói chung) và THTL VN (nói riêng) còn có chung một Cha vĩ đại nữa, ấy là Cha Thiên Thượng, bởi Thánh Kinh đã xác chứng: “nhưng những ai tiếp nhận Ngài, nghĩa là tin danh Ngài, thì Ngài ban cho quyền trở nên con Đức Chúa Trời. Đây là những người không sinh ra theo huyết thống, ý phàm hay ý người, nhưng do chính Đức Chúa Trời sinh thành” (Giăng 1; 12-13, BDM). Nghĩa là tất cả những ai đã tin Chúa Giê-su thì đều trở thành con Đức Chúa Trời, và đương nhiên họ trở nên “anh em” với nhau, và lúc này họ có một “gia đình” lớn hơn nhiều, ấy là “gia đình Cơ Đốc”.

Như vậy, các CĐN có bổn phận phải thi hành: đầu tiên và trước nhất phải Hiếu kính Cha trên trời, và họ được lệnh chỉ được thờ phượng một mình Ngài (Xuất hành 20: 3), với tất cả tâm linh và lẽ thật (Giăng 4: 24); đồng thời họ có bổn phận yêu thương anh em mình Giăng 13: 34-35) và yêu thương mọi người nói chung (Ma-thi-ơ 22: 34-40).

Như thế, nếu có thể coi hiếu kính với cha mẹ dưới đất (theo không gian gia đình) là Tiểu hiếu thì việc hiếu kính Cha Thiên Thượng cùng với lòng yêu thương tha nhân theo Lời dạy từ Thánh Kinh có thể coi là Đại hiếucủa CĐN. Từ đó, cho thấy Đại hiếu theo cách hiểu của CĐN mang tính cao trọng và bao quát hơn nhiều so với Đại hiếu theo cách hiểu của người Việt; bởi cớ, Đại hiếu theo cách hiểu của người Việt, ngoài không gian gia đình còn dành cho dân và cho nước (tức không gian quốc gia), mặc dù đã ở tầm mức rộng rãi nhưng vẫn chỉ là chú tâm về mối tương quan giữa người với người ở dưới đất (theo chiều ngang), mà quên mất đi điều quan trọng nhất là mối tương quan giữa con người và Đấng Sáng Tạo ra chính mình, giữa con người dưới đất với Cha Thiên Thượng (theo chiều dọc).

Điều đặc biệt thú vị là Hiếu đạo theo Cơ Đốc giáo lại gắn chặt Đại hiếu và Tiểu hiếu thông qua điều răn:“Nếu ai nói: Tôi yêu kính Đức Chúa Trời mà lại ghét anh chị em mình, thì người ấy là kẻ nói dối; Vì ai không yêu thương anh chị em mình là người thấy được, thì không thể yêu kính Đức Chúa Trời là Đấng không thấy được. Và chúng ta có điều răn này: Ai yêu kính Đức Chúa Trời thì cũng phải thương yêu anh chị em mình” (I Giăng 4: 20-21, BDM). Điều này cũng đồng nghĩa nếu CĐN nói rằng hiếu kính với Chúa thì họ không thể không hiếu kính cha mẹ mình; nếu ai đó không hiếu kính với cha mẹ mình là người mang nặng đẻ đau, nuôi nấng, dưỡng dục; luôn ở bên cạnh bảo vệ, che chở mình mà lại nói rằng hiếu kính với Chúa thì chỉ là kẻ dối trá, lừa đảo và bịp bợm.

Tóm lại, với THTL VN thì không chỉ yêu cầu hiếu kính cha mẹ trong không gian gia đình và quốc gia như vốn có của người Việt, nhưng điều trên hết và đầu nhất mà họ không được phép quên là phải hiếu kính Cha Thiên Thượng và yêu thương anh chị em mình; nghĩa là họ có bổn phận phải chu toàn cả Đại hiếu lẫn Tiểu hiếu.

Vậy, với nhãn quan về Hiếu đạo như trên, thì trong thực tế các CĐN mà cụ thể là các THTL VN đã thực hành như thế nào; và trong tương lai liệu chúng ta cần có sự đổi mới về cách nhìn cũng như phương cách để Phúc Âm hóa Hiếu đạo theo truyền thống của dân tộc hay không?

b) Những điều đã thực hành và một số đề xuất.

Những điều đã thực hành.

Nếu tính từ khi Công giáo giới thiệu Chúa Giê-su cho dân tộc VN thì đến nay Cơ Đốc giáo vào VN đã hơn bốn trăm năm; còn với Tin Lành thì đã vào VN hơn một trăm năm. Phải công bằng mà nói: khi vào VN thì Cơ Đốc giáo đã góp phần làm thay đổi nền văn hóa của VN theo hướng tốt đẹp, đặc biệt là xóa đi rất nhiều những hủ tục lạc hậu, đem đến cho người Việt sự văn minh của Tây Phương, và một điều không ai có thể chối cãi được ấy là, chữ viết có nguồn gốc La-tinh mà chúng ta đang dùng hiện nay là do những Cơ Đốc nhân khởi xướng.

Riêng với Tin Lành, thì nếp sống kính sợ Chúa, lòng yêu thương người lận cận, sự kiên nhẫn, lối sống có trách nhiệm, tuân thủ pháp luật (hay phương cách thực hành Hiếu đạo) được thực hiện từ ngay trong gia đình cho ra đến cộng đồng. Điều này đã có tác động rất lớn đến xã hội và các tín hữu của các tôn giáo ngoài Cơ Đốc; đặc biệt nếp sống tốt đẹp ấy của các THTL VN đôi khi nó còn làm thay đổi hẳn lối sống của cả một cộng đồng dân tộc. Tình hình phát triển của Tin Lành trong các dân tộc thiểu số ở năm tỉnh Tây Nguyên và sáu tỉnh biên giới phía Bắc đã minh chứng cho điều này. Qua khảo sát một số ý kiến của những nhà nghiên cứu ngoài Cơ Đốc cho thấy: trước những sự thay đổi theo hướng tiến bộ của những người sau khi tin Chúa, các nhà nghiên cứu này đã phải thừa nhận tính tích cực của nếp sống đạo của các THTL.

Ví dụ: khi xem xét về tình hình phát triển đạo Tin Lành ở Tây Nguyên một tác giả đã viết:

“Đạo Tin Lành là tôn giáo của tình thương và lòng bác ái (Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết về lòng bác ái đáng trân trọng của Chúa Giê-su). Tín đồ Tin Lành sẵn sàng chia sẻ, tương trợ với những bạn hữu khốn khó và xem đây là một tiêu chí của đời sống đạo. Sự giúp sức, nâng đỡ bằng tinh thần và của cải vật chất đã giúp không ít người vốn khó khăn như đồng bào các dân tộc thiểu số vươn lên cải thiện cuộc sống là điều đã làm cho họ rất quan tâm”.[19]

Hoặc khi nghiên cứu về tình hình phát triển Tin Lành trong cộng đồng người H’mông ở các tỉnh miền núi phía Bắc một tác giả khác đã viết: “Tin Lành đề cao sự tiến bộ vì vậy giúp người H’mông bỏ được những cái lạc hậu và tiếp thu những cái tiến bộ. Trên thực tế, Việc người H’mông bỏ tín ngưỡng truyền thống để thay đổi theo Tin Lành cũng có tác động tích cực nhất định tới tình hình phát triển kinh tế-xã hội của người H’mông. Bằng cứ là việc các tín đồ Tin Lành người H’mông bỏ những tập tục lạc hậu, động viên con cái đi học và lên tới các cấp cao hơn, sử dụng thuốc nam và y học hiện đại để chữa bệnh, thực hiện tốt chương trình kế hoạch hóa gia đình, bỏ các tệ nạn xã hội như: đánh chửi nhau, nghiện hút, nghiện rượu, trộm cắp v v …”[20]

Trên đây là những ý kiến của những trí thức ngoài Tin Lành nên chắc chắn nó mang tính khách quan, và ít nhiều nó cũng phản ánh cách tích cực nếp sống đạo (có thể coi là cách thực hành Hiếu đạo) mà các THTL ở những khu vực này đã thực hiện. Bởi những ghi nhận tích cực đó, trước hết nó làm cho Danh Chúa được tôn cao, và sau nữa nó hấp dẫn được những người khác, đó chính là điều kiện tốt để giúp những người chưa biết Đức Chúa Trời tiếp cận được nguồn sáng từ Phúc Âm. Điều này cũng có nghĩa là nếu THTL VN thực hành tốt Hiếu đạo thì đó cũng là phương cách tốt nhất để truyền bá Phúc Âm cho người khác.

Tuy nhiên, bên cạnh những việc làm tốt thể hiện được phẩm cách tốt đẹp của Phúc Âm như đã được người ngoài Cơ Đốc giáo ghi nhận thì vẫn còn nhiều điều cần phải xem xét lại về thực hành Hiếu đạo ngay trong nội bộ THTL VN.

Một điều dễ nhận thấy là: ngày nay chúng ta đang sống ở kỷ nguyên công nghệ số hóa, mọi phương diện của đời sống xã hội thay đổi đến chóng mặt; không thể phủ nhận cuộc sống hiện đại đã giải phóng sức lao động của con người, đã đem lại cho con người những tiện nghi mà cách đây ít năm thôi người ta chỉ dám mơ ước. Nhưng tấm huân chương nào thì cũng có mặt trái của nó, trong thời hiện đại, lối sống hiện đại đã làm cho người ta quay cuồng để kiếm sống, nhiều khi không còn điều kiện để quan tâm đến nhau nữa; sự gắn kết gia đình theo truyền thống của VN đang trên đà bị phá vỡ, càng ngày người ta càng ganh đua quyết liệt hơn, coi thường nhau hơn, vô cảm với nhau hơn.

Hiện tượng này cũng đang càn quét qua Hội Thánh của Chúa trên đất nước VN. Từ đó dẫn đến vấn đề “thế tục hóa” đã len lỏi vào các giáo phái của TL lớn cũng như nhỏ tại VN; đến ngày hôm nay phải công tâm mà nói rằng: “tục hóa” đã trở thành trào lưu khó cưỡng lại. Bởi đó, việc thực hành Hiếu đạo của các THTL VN đã sa sút cách nghiêm trọng. Trong những năm gần đây đã xảy ra nhiều vấn nạn về Hiếu đạo trong cả không gian gia đình lẫn không gian Hội Thánh. Xin nêu một vài khía cạnh.

Xét trong không gian gia đình thì thường có các tình trạng: Thứ nhất là, con cái không vâng lời cha mẹ. Hiện tượng “bật lại” cha mẹ khi được cha mẹ dạy dỗ xảy ra rất phổ biến. Thậm chí có mục sư lãnh đạo còn cãi lại cha mẹ, rủa sả chị em mình trước mặt những người ngoại. Rõ ràng với “tấm gương” về thực hành Hiếu đạo như vậy thì không thể tránh được những suy nghĩ tiêu cực xảy ra trong hàng ngũ tín hữu Tin Lành; mặt khác nó tạo ấn tượng xấu về Tin Lành trong con mắt người ngoại. Thứ hai là, tình trạng vô cảm của tầng lớp trẻ tuổi với cha mẹ cũng không hiếm; tuổi của cha mẹ là bao nhiêu, sức khỏe của cha mẹ như thế nào không hề biết.

Có một số thanh niên là truyền đạo hay chấp sự trong HT hẳn hoi nhưng không ngó ngàng gì tới cha mẹ với lý do “bận hầu việc Chúa”, rồi đòi cha mẹ phải thông cảm và phải phục dịch mình. Với những thái độ như vậy của các THTL, đã làm cho Tin Lành tại VN mang nhiều điều tiếng không hay. Không có cách nói nào khác rằng: thực hành Hiếu đạo kiểu đó của một số THTL VN cho thấy họ không chỉ bất hiếu với cha dưới đất mà còn bất hiếu với cả Cha Thiên Thượng nữa.

Xét trong không gian Hội Thánh thì thường xảy ra các tình trạng:

Thứ nhất là, thái độ vô lễ của người trẻ với người có tuổi; điều này tồn tại trong hầu hết các giáo phái, kể cả các nhóm độc lập. Hiện tượng những người trẻ tuổi nhìn thấy các bậc trưởng lão, các bậc cha chú trong các buổi nhóm mà không thèm chào hỏi đã trở nên hết sức bình thường. Đáng tiếc là những hiện tượng không hay đó lại được một số mục sư trẻ “nêu gương sáng”. Khi chưa được phong chức, chưa lãnh đạo một nhóm nào, một chi hội nào thì còn biết phân biệt thứ bậc trên dưới, nhưng sau khi được phong chức, được phụ trách một vài nhóm, được lãnh đạo một vài chi hội thì chỉ sau vài ba Chúa Nhật đừng trên tòa giảng thì thái độ đã hoàn toàn khác hẳn. Khi đó chỉ có ý kiến của mình là đúng, còn mọi ý kiến khác kể cả của bậc cha chú hay bậc thầy thì đều cho rằng: “đấy là ý kiến của loài người xác thịt” không cần quan tâm.

Thứ hai là, không vâng phục và kính sợ Chúa, điều này nó thể hiện qua nhiều hiện tượng, nhưng phổ biến nhất là hiện tượng “nói một đàng làm một nẻo” thì không một giáo phái, hay nhóm nhánh nào không có. Nhiều vị mục sư lãnh đạo khi rao giảng về yêu thương Agape nhưng lại chỉ có thể yêu một cách có chọn lọc; khi giảng về tha thứ thì lại không thể quên những lỗi của người khác dù là lỗi nhỏ; khi rao giảng về tấm lòng biết ơn nhưng lại không bao giờ nhớ đến những người đã lăn lộn cùng với mình “nằm gai nếm mật”, hay những người từng “nhường cơm sẻ áo” cho mình từ thuở còn “hàn vi”; khi rao giảng về tinh thần tận hiến để mở mang, xây dựng Vương Quốc của Đức Chúa Trời, nhưng thực ra lại tìm đủ mọi cách để xây dựng vương quốc của riêng mình; khi lớn tiếng dạy dỗ tín đồ rằng “ban cho có phước hơn nhận lãnh”, nhưng trên thực tế thì dùng đủ mọi thủ đoạn để quyên góp, vận động tài chính vật chất nhằm thủ lợi riêng … Kết quả là, với những thái độ như trên thì một số THTL đã vi phạm không chỉ nguyên tắc về Đạo Đức Cơ Đốc mà còn vi phạm cả nguyên tắc đạo đức tối thiểu nhân loại nữa. Và không thể nói khác được rằng những THTL vi phạm những nguyên tắc trên thì chắc chắn họ không thể chu toàn cả Đại hiếu lẫn Tiểu hiếu.

Tất nhiên, những hành vi không tốt đẹp gì trong thực hành Hiếu đạo của các CĐN còn thể hiện ở rất nhiều phương diện khác nữa, nhưng trong phạm vi bài viết chúng tôi chỉ tạm đưa ra một vài ý như trên, cũng đủ để cho những con cái thật của Chúa phải xem xét lại cách nghiêm túc.

Vậy trước thực trạng ấy, liệu chúng ta cần phải làm những gì để làm giảm những hiện tượng không đáng có như đã nêu?

– Một số đề xuất:

Qua những điều đã trình bày, thực hành Hiếu đạo của các THTL VN có nhiều điểm đáng ca ngợi, nhưng kèm theo đó có những khiếm khuyết không thể không được khắc phục trong cả không gian gia đình và Hội Thánh. Chúng tôi xin mạo muội đề xuất một số ý kiến sau:

  1. Với những việc tốt đã được dư luận ngoài Cơ Đốc ghi nhận thì cần phát huy, khuyến khích, nhân rộng và quảng bá. Để qua đó trước hết Danh Cha Thiên Thượng được tôn vinh, tiếp theo đó để những người khác được ánh sáng của Phúc Âm soi chiếu, từ đó họ mở lòng tiếp nhận Phúc Âm. Làm được điều đó cũng chính là bày tỏ tình yêu thương Agape với tha nhân, cũng chính là các CĐN đã thực hành Đại hiếu.

 

  1. Lối sống có Hiếu với cha mẹ phải được dạy dỗ chu đáo, chi tiết trong các Hội Thánh, và phải được thực hành bất kể ở qui mô nào, thời điểm nào. Đồng thời phải nhấn mạnh: hiếu kính cha mẹ không chỉ là bổn phận của con cái, nhưng trên hết đây là đòi hỏi của Thiên Chúa; điều này có nghĩa: nếu là một CĐN (nói chung) hay THTL (nói riêng) thì không thể không thực hành Hiếu đạo ngay trong không gian gia đình của mỗi tín hữu cho ra đến cộng đồng.

 

  1. Trong các khóa huấn luyện (kể cả các giáo trình) truyền giáo rất cần thiết phải nhấn mạnh đến vấn đề truyền giáo thông qua lối sống đạo của CĐN, trong đó thực hành Hiếu đạo trong không gian gia đình, HT và cộng đồng xã hội đều phải được đặc biệt coi trọng.

 

  1. Những bậc làm cha mẹ, các bậc trưởng thượng, đặc biệt là các mục sư lãnh đạo là những người có trách nhiệm hướng dẫn, khuyên bảo và dạy dỗ lớp trẻ phải thực sự là những tấm gương sáng về thực hành Hiếu đạo cho các thế hệ sau noi theo, trong cả không gian gia đình cũng như Hội Thánh . Nếu không ý thức được điều này thì mọi sự rao giảng, dạy dỗ hay khuyên bảo không chỉ như “nước đổ lá khoai” mà còn gây ra những sự phản cảm tai hại.

 

III – KẾT LUẬN

Qua những điều đã trình bày chúng tôi thấy, dù ở phương Đông hay phương Tây, dù là theo quan điểm của Cơ Đốc giáo hay theo những quan điểm của những tôn giáo, tín ngưỡng ngoài Cơ Đốc thì Hiếu đạo đều là nhằm đến việc thực hành, tức là Đạo để người ta sống theo nó chứ không phải để trưng bày trong tủ kính. Đối với các dân tộc Á Đông, và đặc biệt là ở VN thì Hiếu đạo lại càng được coi trọng, trong dân gian đã lưu truyền câu: “Trong muôn nết hạnh, hiếu là trên hết”. Trong đó cốt lõi của nó là: tôn kính, phụng dưỡng lúc cha mẹ còn sống, thờ phụng cha mẹ khi qua đời. Đó không chỉ là bổn phận của những người làm con mà còn là phẩm chất cao quí để thể hiện rằng con người đó thực sự là người. Bên cạnh đó một người muốn làm trọn Hiếu đạo còn phải thực hành trên cả qui mô quốc gia nữa.

Nếu nhìn một cách khách quan thì những giá trị cốt lõi về Hiếu đạo theo truyền thống của người Việt phần lớn phù hợp với Hiếu đạo của các THTL chỉ có một điều không phù hợp là phải thờ phượng ông bà, cha mẹ cả khi các vị ấy đã khuất núi. Trong bối cảnh ấy, các THTL VN càng phải thực hành Hiếu đạo nghiêm túc hơn, căn cứ theo tiêu chuẩn Chúa Giê-su dạy các con cái Ngài phải chu toàn hai bổn phận là Kính Chúa, yêu người (Ma-thi-ơ 22: 34-40). Trong đó, trước hết là hiếu kính với Cha Thiên Thượng, và thể hiện lòng hiếu kính ấy qua sự yêu thương anh chị em đồng loại (hay Đại hiếu); và tiếp theo đó là hiếu kính với cha mẹ dưới đất và yêu thưng anh chị em ruột thịt của mình (hay Tiểu hiếu).

Đồng thời cần ý thức rằng: hiếu kính cha mẹ ở dưới đất cũng chính là hiếu kính với Cha Thiên Thượng. Đó là mối quan hệ hữu cơ kỳ diệu theo tiêu chuẩn của Đạo Đức Cơ Đốc. Mong rằng các THTL VN hãy coi Hiếu đạo cũng như một món quà mà Thiên Chúa dành cho loài người, và hãy thực hành Hiếu đạo chu đáo theo “không gian ba chiều” là gia đình, Hội Thánh và xã hội để góp phần đưa nhiều người quay trở về với Đấng Tận Chân, Tận Thiện, Tận Mỹ và như thế là họ đã làm tròn cả Đại hiếu và Tiểu hiếu.

Do trình độ còn nông cạn, hết sức mong các con cái Chúa chỉ giáo để cùng nhau tinh tiến trên hành trình về Nước Chúa.

Nguyện xin Đức Chúa Trời luôn ở cùng và ban ân sủng trên các quí con cái Ngài. Amen!

 

Hà nội 10/09/2013
Mục Sư Nguyễn Trọng Việt
(“Suy Tư về Hiếu Đạo của Người Việt,”HỘI THẢO THVN THÁNG 10 – 2013)

 


Chú thích

1.Võ Phương Lan. Thờ Cúng Tổ Tiên Người Việt. NXB Từ Điển Bách Khoa. 2012. Trg 11.

2. Viện Ngôn Ngữ Học. Từ Điển Tiếng Việt. NXB Đà Nẵng. 2004.

3. Viện Ngôn Ngữ Học. Từ Điển Tiếng Việt. NXB Đà Nẵng. 2004.

4. Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam. Từ Điển Trung Việt. NXB Khoa Học Xã Hội. 1997.

5. Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam. Từ Điển Trung Việt. NXB KHXH. 1997.

6. Hán Việt Từ Điển. Theo: hanviet.org.

7. Trần Ngọc Thêm. Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam. NXB Giáo Dục. 2000. Trg 89.

8. Nguyễn Ngọc Thơ. Quan Niệm Chữ Hiếu Trong Văn Hóa Việt Nam Và Hàn Quốc. Theo: http://www.vanhoahoc.edu.vn

9. Nguyên văn: 子 游 问 孝, 子 曰: 今 之 孝 者, 是 谓 能 养。至 於 犬 马, 皆 能 有 养, 不 敬, 何 以 别 乎? (Tử Du vấn hiếu, Tử viết: “Kim chi hiếu giả, thị vị năng dưỡng. Chí ư khuyển mã, giai năng hữu dưỡng, bất kính, hà dĩ biệt hồ?). Viện Nghiên Cứu Hán Nôm. Tứ Thư. Luận Ngữ. Thiên Vi Chính, Tiết 7. NXB Khoa Học Xã Hội. 2004. Trg 246.

10. Nguyên văn: 孟 武 伯 问 孝, 子 曰: 父 母 唯 其 疾 之 忧. (Mạnh Vũ Bá vấn hiếu, Tử viết: “Phụ mẫu duy kỳ tật chi ưu”). Viện Nghiên Cứu Hán Nôm. Tứ Thư. Luận Ngữ. Thiên Vi Chính, Tiết 6. NXB Khoa Học Xã Hội. 2004. Trg 245.

11. Nguyên văn: 孟 子 曰: “事孰 為 大? 事 親 為 大. 守 孰 為 大? 守身 為 大. 不 其 身, 而 能 事 其 親 者, 吾 未 之 聞 也. 孰 不 為 事? 事 親, 事 之 本 也. 孰 不 為 守? 守身, 守 之 也”. (Mạnh Tử viết: “Sự thục vi đại? Sự thân vi đại . Thủ thục vi đại? Thủ thân vi đại. Bất kỳ thân, nhi năng sự kỳ thân giả, ngô văn chi hĩ. Thất kỳ thân, nhi năng sự kỳ thân giả, ngô vị chi văn dã. Thục bất vi sự? Sư thân, sự chi bản dã. Thục bất vi thủ? Thủ thân, thủ chi bản dã). Đoàn Trung Còn. Tứ Thư. Mạnh Tử hạ. Thiên Li Lâu thượng. Tiết 19. NXB Thuận Hóa. 2011.

12. Nguyên văn: 孟 子 曰: “世 俗 所 謂 不 孝 者 五! 惰 其 四 支, 不 顧 父 母 之養; 一 不 孝 也. 博 弈 好 飲 酒, 不 顧 父 母 之 養; 二 不 孝 也. 好 貨 財, 私 妻 子, 不 顧 父 母 之養; 三 不 孝 也. 從 耳 目 之 欲, 以 為 父 母 戮; 四 不 孝 也. 好 勇, 鬪 狠, 以 危 父 母; 五 不 孝 也”. (Mạnh Tử viết: “Thế tục sở vị bất hiếu giả ngũ! Nọa kỳ tứ chi, bất cố phụ mẫu chi dưỡng; nhất bất hiếu dã. Bác, dịch, hiếu ẩm tửu, bất cố phụ mẫu chi dưỡng; nhị bất hiếu dã. Hiếu hóa tài, tư thê tử, bất cố phụ mẫu chi dưỡng; tam bất hiếu dã. Tùng nhĩ mục chi dục, dĩ vi phụ mẫu lục; tứ bất hiếu dã. Hiếu dũng, đấu ngận, dĩ nguy phụ mẫu; ngũ bất hiếu dã”). Đoàn Trung Còn. Tứ Thư. Mạnh Tử hạ. Thiên Li Lâu thượng. Tiết 30. NXB Thuận Hóa. 2011.

13. Nguyên văn: 孟 子 曰: “不 孝 有 三, 無 後 為 大” (Mạnh Tử viết: “Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại”). Đoàn Trung Còn. Tứ Thư. Mạnh Tử hạ. Thiên Li Lâu thượng. Tiết 26. NXB Thuận Hóa. 2011.

14. Nguyên văn: 19. 子 曰: 父 母 在,不 远 游, 游 必 有 方。(Tử viết: Phụ mẫu tại, bất viễn du, du tất hữu phương). 21. 子 曰:父 母 之 年,不 可 不 知 也。一 则 以 喜, 一 则 以 惧. ( Tử viết: Phụ mẫu chi niên, bất khả bất tri dã. Nhất tắc dĩ hỉ, nhất tắc dĩ cụ). Viện Nghiên Cứu Hán Nôm. Tứ Thư. Luận Ngữ. Thiên Lý Nhân. Tiết 19, 21. Trg 282.

15. Nguyên văn: 天 下 之 達 道 五; 所 以 行 之 者 三. 曰: 君 臣 也, 父 子 也, 夫 婦 也, 昆 弟 也, 朋 友 之 交 也; 五 者, 天 下 之 達 道 也 .知 ,仁 ,勇 三 者; 天 下 之 達 德 也. 所 以 行 之 者 一 也. (Thiên hạ chi đạt đạo ngũ; sở dĩ hành chi giả tam. Viết: quân thần dã, phụ tử dã, phu phụ dã, côn đệ dã, bằng hữu chi giao dã; ngũ giả, thiên hạ chi đạt đạo dã. Trí, nhân, dũng tam giả; thiên hạ chi đạt đức dã. Sở dĩ hành chi giả nhất dã). Đoàn Trung Còn. Tứ Thư. Trung Dung. Tiết 26. NXB Thuận Hóa. 2011.

16. GS NGND Nguyễn Đình Chú. Tạp Chí KHXH & NV Nghệ An. Số 7/2013.

17. Nguyễn Ngọc Thơ. Quan Niệm Chữ Hiếu Trong Văn Hóa Việt Nam Và Hàn Quốc. Theo: www.vanhoahoc.edu.vn

18. Lưu Hồng Khanh. Đạo Đức Học Ki-tô. Frankfut. 2003.Trg 14.

19. Đinh Văn Hạnh, Không Gian Tôn Giáo Và Không Gian Văn Hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên. Tạp Chí Xưa & Nay, Số 370, tháng 12, 2010.

20. Nguyễn Văn Thắng. Giữ “Lý Cũ” Hay Theo “Lý Mới”? NXB Khoa Học Xã Hội. 2009. Trg. 61.

 


TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Kinh Thánh tiếng Việt: BDC, BDM, “Kinh Thánh Công giáo” bản dịch năm 2011.
  2. “Thần Học Cơ Đốc Giáo”, Millard J. Erickson. NXB Văn Hóa Thông Tin. Năm 2007.
  3. “Đạo Đức Học Ki-tô”, Lưu Hồng Khanh. Frankfut. 2003.
  4. “Thờ Cúng Tổ Tiên Người Việt”, Võ Phương Lan. NXB Từ Điển Bách Khoa. 2012.
  5. “Từ Điển Tiếng Việt”, Viện Ngôn Ngữ Học. NXB Đà Nẵng. 2004.
  6. “Từ Điển Trung-Việt”, Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam. NXB Khoa Học Xã Hội. 1997.
  7. “Thánh Kinh Tân Từ Điển”, Viện Thần Học Tin Lành Việt Nam. NXB Phương Đông. 2009.
  8. “Tạp Chí Xưa & Nay”, Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam. Số 330, tháng 4 năm 2009; Số 370, tháng 12 năm 2010.
  9. “Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam”, Trần Ngọc Thêm. NXB Giáo Dục. 2000.

10. “Tứ Thư”, Viện Nghiên Cứu Hán Nôm. NXB Khoa Học Xã Hội. 2004.

11. “Ngũ Kinh”, Viện Nghiên Cứu Hán Nôm. NXB Khoa học Xã Hội. 2004.

12. “Tạp Chí KHXH & NV Nghệ An”, Số 7/2013.

13. “Giữ “Lý Cũ” Hay Theo “Lý Mới”?” Nguyễn Văn Thắng. NXB Khoa Học Xã Hội. 2009.

14. “Việt Nam Văn Hóa Sử Cương”, Đào Duy Anh. NXB Văn Hóa Thông Tin. 2003.

15. “Tục Ngữ Ca Dao Dân Ca Việt Nam,” NXB Văn Hóa Thông Tin. 2011.

16. “Văn Hóa Tâm Linh,” Nguyễn Đăng Duy. NXB Văn Hóa Thông Tin. 2009.

17. Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam. Phan Ngọc. NXB Văn Học. 2006.

18. Tứ Thư. Đoàn Trung Còn. NXB Thuận Hóa. 2011.

19. Một số các trang web: www.vanhoahoc.edu.vn; hanviet.org; triethoc.net; .

 



Comments

comments

About The Author

Number of Entries : 217

Liên Phái Thánh Kinh Thần Học Viện Việt Nam Website đang xây dựng

Scroll to top